58 tienphong.vn “ĐỊNH MỆNH” KHÁNH LY Trong đời sống văn nghệ miền Nam giai đoạn 1954-1975, ở lĩnh vực âm nhạc có những mối nhân duyên giữa nhạc sĩ và ca sĩ đã trở thành những “cặp đôi hoàn hảo” trong cảm nhận của công chúng như: Phạm Duy - Thái Thanh; Châu Kỳ - Mộc Lan; Trịnh Công Sơn - Khánh Ly; Lê Uyên - Phương. Riêng sự gặp gỡ giữa Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, không chỉ là nhân duyên mà là định mệnh, như lời chia sẻ của Khánh Ly trong tác phẩm Đằng sau những nụ cười: “Trong đời tôi cũng đã gây nhiều lầm lỡ. Ân hận hối tiếc đã nhiều... Song trời đưa đẩy tôi gặp Sơn. Trời cho tôi những ngày đẹp đẽ đáng yêu nhất. Tôi không bao giờ hối tiếc. Nếu có kiếp sau, tôi cũng xin gặp lại Sơn, như đã gặp…”. Ở trang đầu và cuối của cuốn sách trên, Khánh Ly đã cho in chính thủ bút của mình với lời đề từ đầy tin yêu, và tiếc nuối không nguôi: “Hình như chưa bao giờ mình nói yêu nhau. Nếu bây giờ em nói. Có kịp không. Nếu quả thật có kiếp sau. Em sẽ xin thêm ngàn kiếp nữa để yêu anh”. Phải chăng, vì thế, khi luận bàn về âm nhạc Trịnh Công Sơn, không thể không nói đến tiếng hát Khánh Ly. Đây cũng là điều mà Tạ Tỵ luận bàn, trong cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, 1972). Tạ Tỵ nhận định: “Trời bắt giọng ca Thái Thanh thuộc về Phạm Duy, thì tiếng hát Khánh Ly phải dành cho Trịnh Công Sơn. Sự thành công của Trịnh Công Sơn hôm nay, một phần là nhờ vào tài trình diễn của Khánh Ly vậy”. CUỘC TRI NGỘ Ở “TUYỆT TÌNH CỐC” Trên tạp chí Bách Khoa (số 327 ra ngày 15/8/1970), trong bài viết Trịnh Công Sơn - Cuộc hành trình làm người Việt Nam, Thế Uyên kể lại câu chuyện lần đầu gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại Huế qua giới thiệu của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Họ gặp gỡ ở một nơi mà theo Thế Uyên được Hoàng Phủ Ngọc Tường định danh là “Tuyệt tình cốc”. Đó là: “Một căn nhà tranh vách đất và nền cũng bằng đất, không điện và cũng không có một dấu vết nào chứng tỏ có vết tích của cơ khí Tây phương. (...) Hoàng Phủ Ngọc Tường giới thiệu chung và vì quá đông, tôi chỉ nhớ được tên vài người như Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân... Và một người rất trẻ mặc chiếc áo ka ki, vẻ mặt trong sáng, hiền lành sau làn kính trắng có cái tên rất hợp với Tuyệt tình cốc”. Theo Thế Uyên, ông rất vinh hạnh gặp mặt Trịnh Công Sơn cùng với những người bạn văn nghệ xứ Huế mà do khoảng cách địa lý, ông ít khi được diện kiến. Với Thế Uyên, đây là cuộc gặp gỡ định mệnh của những văn nghệ sĩ liên tài trong những năm tháng làm văn nghệ ở miền Nam trước 1975. Khi gặp Trịnh Công Sơn, Thế Uyên rất mong được nghe Sơn hát. “Khi Trịnh Công Sơn bắt đầu hát, tôi chú ý nghe bởi vì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có lần chê tôi là: “Không biết Trịnh Công Sơn thì kể như chưa biết gì về văn nghệ miền này. Nhưng ngay lập tức, tôi không cần phải chú ý nữa. Tôi đã bị chìm ngập ngay vào trong thế giới âm thanh của Trịnh Công Sơn. Tôi vẩn vơ theo dõi những viên đá, hay một viên đá, lăn trầm bồng bềnh trong cuộc đời. Tôi cầu xin mặt trời ngủ yên cho đàn bò đi vào thành phố qua những giáo đường tình yêu... Khi Sơn đã ngừng hát, tôi vẫn còn sững sờ vì không thể ngờ nổi ở Việt Nam lại có thể xuất hiện những bản nhạc như thế. Những âm thanh lê thê, những hình ảnh hoang tàn, rã rời, nhưng tôi vẫn cảm thấy một sức mạnh tiềm tàng lẩn khuất trong từng âm thanh của bản nhạc, trong những người đang ngồi quanh dưới các ánh nến chập chờn và những bóng đen lung linh trên vách đất”. Sau cuộc gặp gỡ định mệnh, mỗi người đi theo ngã rẽ của mình mà họ đã lựa chọn như một tâm thức hiện sinh. Và “Trịnh Công Sơn xuất hiện mỗi ngày một nổi danh vì những bản nhạc của mình. Những bản tình ca của anh được lớp trẻ hoan nghênh dữ dội và phổ biến sâu rộng: Không ngồi nơi nào không nghe thấy những âm điệu của anh. Nhưng tôi biết anh không thể ngừng ở đây, không thể chỉ là một người làm tình ca cho thiên hạ yêu nhau”. Và khi đã trải qua những dằn vặt, trăn trở, trong hành trình đi tìm bản thể dân tộc, Trịnh Công Sơn đã xác quyết lập trường “dân tộc tính” của mình. Đây là cảm hứng chủ đạo trong âm nhạc viết về tình tự quê hương của Trịnh Công Sơn. Thế Uyên nhận định: “Bắt đầu từ chặng này của cuộc hành trình, những người trẻ đó chỉ có thể lên tiếng tuyên bố, như trong phần cuối của bài ca “Tình ca của người mất trí”: “Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam/ Ngày gió lớn đôi môi gọi thầm/ Gọi tên anh tên Việt Nam/ Gần nhau trong tiếng nói da vàng”. Thế Uyên kể: “Lần cuối gặp nhau trước khi Trịnh Công Sơn về Huế, trong căn gác xép mưa dột đầy một góc, ngồi trên chiếc chiếu rách, anh có hỏi tôi: Khi đất nước thanh bình, bạn bè hai bên trở về, sẽ ra sao nhỉ? Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy, nhưng tôi biết khi thanh bình, tôi sẽ làm gì. Tôi sẽ ra Huế, kiếm Trịnh Công Sơn, và sẽ rủ anh làm như trong một bản nhạc anh đã đặt tên “Tôi sẽ đi thăm” (...) và có lẽ cũng tới đây, Sơn và tôi mới hy vọng sẽ chỉ còn một việc là: làm tình ca và viết chuyện tình rất viễn mơ”. Tất nhiên, điều mơ ước ấy đã không xảy ra như kịch bản mà hai nghệ sĩ kỳ vọng. Bởi, ngày đất nước thống nhất, hai ông đã ở hai hoàn cảnh với hai phận số khác nhau. Trịnh Công Sơn ở trong nước, tiếp tục sáng tác những bài hát về tình tự quê hương, còn Thế Uyên định cư ở nước ngoài. Đây là căn nguyên mà ước mơ của Thế Uyên và Trịnh Công Sơn không thực hiện được khi đất nước hòa bình. Nhưng tin rằng, trong sâu thẳm của hai ông, mơ ước ấy sẽ không bao giờ mất. Và giờ đây, khi hai ông đã trở thành người “muôn năm cũ”, biết đâu các ông gặp nhau trong niềm vui mình vẫn là người Việt Nam, mang dòng máu Lạc Hồng, dìu nhau đi khắp ba miền Trung - Nam - Bắc như sinh thời các ông từng hẹn ước, khi gặp nhau ở Tuyệt tình cốc... n Với tiếng hát huyền thoại của Khánh Ly, âm nhạc Trịnh Công Sơn đã vượt ra ngoài phạm vi dân tộc để đến với nhân loại. Trong lời nói đầu tập ca khúc Kinh Việt Nam (Nhân Bản xuất bản tại Sài Gòn, 1968), Trịnh Công Sơn xác quyết: “Tiếng hát đã có thể cất lên để nuôi lớn ước mơ”, thì tiếng hát huyền thoại của Khánh Ly, khi cất lên đã /đang/sẽ “nuôi lớn ước mơ”. Đó là ước mơ hòa bình, thống nhất đất nước, là ước mơ về tình yêu cao đẹp và nhân bản của con người mà âm nhạc Trịnh Công Sơn và tiếng hát huyền thoại của Khánh Ly mang đến, không chỉ cho người dân Việt Nam mà cho cả nhân loại luôn hướng đến những giá trị nhân văn... Tạ Tỵ (1921-2004) - họa sĩ danh tiếng, cũng là một cây bút văn chương đầy cá tính, và Thế Uyên (1935 – 2013) - nhà văn nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 cùng có những góc nhìn đặc biệt về Trịnh Công Sơn thời mới khởi đầu sự nghiệp âm nhạc. TRẦN HOÀI ANH TRONG MẮT BẠN VĂN NGHỆ TRƯỚC 1975 Trịnh Công Sơn Chân dung Trịnh Công Sơn qua nét vẽ của Tạ Tỵ, cùng bút tích của Trịnh trong cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ... (Ảnh Trần Hoài Anh chụp lại) Trịnh Công Sơn đệm đàn cho Khánh Ly hát ca khúc Mưa Hồng tại Quán Văn (Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1967, nay là Trường Đại học KHXH&NV TPHCM) ẢNH: TL VĂN HÓA - VĂN NGHỆ
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==