Báo Tiền Phong số 294

5 n Thứ Tư n Ngày 21/10/2026 KINH TẾ ÁP LỰC KÉP Bà Vũ Thị Ngọc Tuyết, Giám đốc Công ty May Minh Ngọc (xã Bà Điểm, TPHCM) cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DN SME) thường chịu ảnh hưởng rõ rệt khi lãi suất cho vay tăng. Không chỉ phải đối mặt với chi phí vốn cao, nhóm DN này còn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng do các yêu cầu về tài sản bảo đảm và hồ sơ vay vốn. “Tôi đang có nhu cầu vay thêm khoảng 10 tỷ đồng nhưng khi tìm đến ngân hàng, tôi đã rút lại ý định trên bởi lãi vay đều trên 10%. Sau thời gian đó, lãi suất thả nổi còn tăng hơn”, bà Tuyết chia sẻ. Trước áp lực lãi suất, bà Tuyết phải tái cấu trúc tài chính, rà soát các khoản vay, đàm phán với đối tác… Đồng thời, công ty kiểm soát chặt dòng tiền thông qua cắt giảm chi phí, tối ưu hàng tồn kho và đẩy nhanh thu hồi công nợ. Bên cạnh khó khăn về vốn, theo bà Tuyết, sức mua trên thị trường suy giảm khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu. Chi phí đầu vào tăng trong khi hàng hóa tiêu thụ chậm khiến các nhà sản xuất chịu áp lực từ nhiều phía. Bà kỳ vọng thời gian tới có thể tiếp cận vốn vay thuận lợi hơn để đầu tư máy móc, thiết bị và thuê thêm nhân công, đáp ứng các đơn hàng vào đầu năm tới. Ông Nguyễn Song Tùng, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Tư vấn và Phát triển Nông nghiệp Bền vững HKT (phường Đông Hưng Thuận) cho rằng, chủ trương giảm lãi suất, triển khai các gói tín dụng ưu đãi để hỗ trợ DN là rất cần thiết. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tế và phát huy hiệu quả, cần có cơ chế triển khai cụ thể, phù hợp với điều kiện của cả ngân hàng và DN. “Nhiều DN SME đang gặp khó khăn trong việc chứng minh dòng tiền, đáp ứng yêu cầu về tài sản thế chấp và các điều kiện vay vốn. Những DN từng gặp vướng mắc trong hoạt động kinh doanh càng khó tiếp cận tín dụng, trong khi DN mới cũng cần thời gian hình thành dòng tiền ổn định để chứng minh khả năng trả nợ. Vì vậy, dù có các gói tín dụng ưu đãi, không phải DN nào cũng có thể tiếp cận nguồn vốn trên thực tế”, ông Tùng cho biết. Để nguồn vốn ưu đãi thực sự đến được với DN, ông Tùng cho rằng cần có hướng dẫn triển khai rõ ràng, xác định cụ thể đối tượng thụ hưởng, điều kiện vay và cơ chế giải ngân. Chính sách càng sát với đặc thù hoạt động của DN và khả năng thực hiện của ngân hàng thì càng tạo điều kiện để DN tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp, duy trì hoạt động, đầu tư công nghệ và mở rộng sản xuất. Theo ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Du lịch Vietravel, Phó Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TPHCM, lãi suất cho vay tại 4 ngân hàng thương mại nhà nước tăng khoảng 1,8-2,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Tại các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân và ngân hàng số, lãi suất cho vay thực tế đã vượt 10%/ năm, ảnh hưởng đến lợi nhuận DN trong bối cảnh sức cầu chung còn yếu. Trước những sức ép về tài chính, DN đang tìm cách đa dạng hóa nguồn vốn, từ phát hành trái phiếu, gọi vốn nhà đầu tư đến tăng vốn chủ sở hữu. Một số đơn vị điều chỉnh chiến lược kinh doanh, thu hẹp các mảng kém hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực cốt lõi và ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số để giảm chi phí vận hành. CẦN CƠ CHẾ ĐỂ VỐN ƯU ĐÃI ĐẾN ĐÚNG ĐỐI TƯỢNG Ngày 20/10, trao đổi với PV Tiền Phong, TS Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho rằng, việc Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ DN là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả thực chất, cần có giải pháp cụ thể thay vì chỉ dừng ở việc kêu gọi các ngân hàng giảm lãi suất. Theo ông Điền, áp lực huy động vốn và cân đối thanh khoản khiến các ngân hàng phải duy trì lãi suất huy động ở mức phù hợp, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất cho vay. Trong khi đó, DN SME gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận tín dụng do hạn chế về tài sản thế chấp, dòng tiền và khả năng chứng minh hiệu quả kinh doanh. Nếu chi phí vay vốn quá cao, nhiều DN khó bảo đảm lợi nhuận để duy trì hoạt động. Vì vậy, ông Điền đề xuất cơ quan quản lý nghiên cứu cơ chế điều hành lãi suất cụ thể, có thể xem xét mức trần lãi suất huy động, lãi suất cho vay phù hợp với từng nhóm khách hàng; đồng thời xác định hạn mức tín dụng dành cho DN SME và các lĩnh vực ưu tiên. “Điều quan trọng không chỉ là giảm bao nhiêu điểm phần trăm mà còn phải đưa mặt bằng lãi suất về mức hợp lý, giúp DN thực sự giảm chi phí vốn”, TS Điền nhấn mạnh. Về lâu dài, TS Điền cho rằng cần phát huy vai trò điều tiết của các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, tạo mặt bằng lãi suất cạnh tranh và thúc đẩy các ngân hàng khác điều chỉnh theo. Trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn, Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp điều hành phù hợp thông qua khuôn khổ pháp lý rõ ràng, bảo đảm hài hòa giữa an toàn hệ thống ngân hàng và nhu cầu vốn của nền kinh tế. UYÊN PHƯƠNG Chính phủ chỉ đạo giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất. Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm 1,52%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp vẫn gặp khó về chi phí vốn và điều kiện tiếp cận tín dụng. Doanh nghiệp mong sớm tiếp cận vốn vay với lãi suất phù hợp để phát triển sản xuất ẢNH: U.P Thông tin từ ngành Ngân hàng, hiện có 15 ngân hàng thương mại, trong đó có những ngân hàng thuộc nhóm 4 ngân hàng thương mại nhà nước, triển khai các gói tín dụng ưu đãi với tổng quy mô khoảng 409.000 tỷ đồng, lãi suất giảm từ 1-2 điểm phần trăm so với lãi suất thông thường. Hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước có văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận để hạ lãi suất, nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng. Theo đó, các ngân hàng thương mại phải giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, không chạy đua tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2 điểm phần trăm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Ngân hàng Nhà nước đồng thời yêu cầu hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh và các công trình, dự án trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, không hạ chuẩn cấp tín dụng để chạy theo tăng trưởng. Bên cạnh đó, Thông tư 50/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 1/12 tới, cũng được kỳ vọng giúp các ngân hàng chủ động hơn trong cân đối nguồn vốn. Trong nhiều tháng qua, không ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay. Nhiều doanh nhân chia sẻ, mặc dù đã tìm kiếm được hợp đồng nhưng thiếu vốn lưu động, lãi vay quá cao, doanh nghiệp của họ đã lỡ cơ hội làm ăn. Vì lẽ đó, yêu cầu kéo giảm lãi suất cho vay mang ý nghĩa sống còn. Kết luận số 106 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành ngày 15/10, đặt ra yêu cầu cần đưa các quyết sách thành kết quả cụ thể và thực chất. Thủ tướng Lê Minh Hưng cũng đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng tiết giảm chi phí, giảm lãi suất cho vay, đơn giản hóa và minh bạch quy trình để doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn. Tinh thần ấy đã được cụ thể hóa. Chính phủ yêu cầu giảm lãi suất cho vay từ 1,5 đến 2 điểm phần trăm đối với sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng hạ lãi suất, hướng dòng vốn vào khu vực tạo ra hàng hóa, việc làm và động lực tăng trưởng. Sáng 19/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn trực tiếp họp với lãnh đạo các ngân hàng thương mại, nhấn mạnh trách nhiệm triển khai và đặt yêu cầu an toàn hệ thống lên hàng đầu. Không lâu sau đó, nhiều ngân hàng công bố các gói tín dụng ưu đãi, mức giảm từ 1,5 đến 2 điểm phần trăm; có ngân hàng chấp nhận giảm thu nhập để chia sẻ chi phí vốn. Đây là tín hiệu đáng mừng, nhất là khi doanh nghiệp đang bước vào mùa cao điểm sản xuất, xuất khẩu và chuẩn bị đơn hàng cho dịp cuối năm. Nhưng từ chỉ đạo đến quầy tín dụng vẫn còn một quãng đường. Điều doanh nghiệp cần không chỉ là mức lãi suất giảm mà họ cần biết khoản vay nào được giảm, giảm trong bao lâu, điều kiện ra sao và doanh nghiệp đang có dư nợ có được hưởng chính sách này hay không? Nếu lãi suất hạ nhưng hạn mức quá thấp thì doanh nghiệp cũng khó tiếp cận. Nhiều doanh nghiệp ở TPHCM trong cuộc họp mới đây cho rằng, tài sản bảo đảm vẫn là rào cản khiến hồ sơ vay kéo dài hoặc phát sinh thêm điều kiện. Vì vậy, nếu chưa giải quyết được điểm nghẽn này, niềm vui sẽ chỉ nằm trên giấy. Thực tế, một điểm phần trăm lãi suất nhìn thấy rất nhỏ nhưng với khoản vay lớn, nó có thể là tiền lương của nhiều công nhân, là chi phí cho một lô nguyên liệu hoặc khoảng thở giúp doanh nghiệp giữ đơn hàng. Do đó, khi doanh nghiệp đứng vững, ngân hàng cũng giữ được khách hàng, người lao động giữ được việc làm và nền kinh tế có thêm sức bật. Chủ trương đã rõ, những cam kết đầu tiên cũng đã có, việc cần làm lúc này là công khai, giám sát và đo hiệu quả bằng số doanh nghiệp thực sự vay được vốn, số chi phí được giảm và số dự án sản xuất được khởi động. Lãi suất thấp hơn đã mở một cánh cửa cho doanh nghiệp trong giai đoạn này. Nhưng cánh cửa ấy chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp có thể bước qua bằng những gói tín dụng cho vay thực sự mang lại hiệu quả. N.L Vốn "chảy" vào sản xuất CHUYỆN HÔM NAY TIẾP THEO TRANG 1 Vốn ưu đãi: Bao giờ?

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==