5 n Thứ Ba n Ngày 20/10/2026 KINH TẾ NGÂN HÀNG ĐỒNG LOẠT GIẢM LÃI SUẤT CHO VAY Trao đổi với PV Tiền Phong, đại diện BIDV thông tin thêm về việc giảm lãi suất 2% công bố trước đó. Theo đó, khách hàng có cả khoản vay mới và dư nợ hiện hữu đủ điều kiện sẽ được giảm lãi suất trong vòng 1 tháng từ ngày 15/10 đến 14/11. Trong sáng 19/10, Agribank cũng thông báo triển khai chương trình giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm so với mức thông thường, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và khách hàng sản xuất, kinh doanh. Chính sách nhằm giảm áp lực chi phí vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân duy trì, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh chương trình giảm lãi suất, Agribank tiếp tục thực hiện gói tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng, triển khai từ tháng 8/2026 đến năm 2028. Đối tượng hướng đến là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng mới, với lãi suất thấp hơn 1-2% so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của ngân hàng. Thông qua các chương trình hỗ trợ, Agribank dự kiến dành khoảng 2.000 tỷ đồng từ nguồn lực tài chính của ngân hàng để chia sẻ chi phí vốn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Cũng trong sáng nay, LPBank công bố giảm 1,6 - 2%/năm lãi suất cho vay đối với các khoản giải ngân mới phục vụ sản xuất, kinh doanh ngắn hạn... Theo Văn bản số 9608 ngày 18/10/2026, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận, giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ sáu tháng trở lên, đồng thời tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, mức giảm thực tế không tự động áp dụng đồng loạt cho mọi khách hàng mà còn phụ thuộc vào hồ sơ tín dụng, mục đích vay vốn, mức độ rủi ro và khả năng trả nợ. DOANH NGHIỆP VẪN CHỊU SỨC ÉP CHI PHÍ Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Trần Văn Lĩnh - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thủy sản Thuận Phước - đánh giá, việc Chính phủ liên tiếp chỉ đạo giảm lãi suất cho vay là tín hiệu tích cực, thể hiện sự quan tâm đối với cộng đồng doanh nghiệp. Dù vậy, hiệu quả của chính sách cần được đánh giá trên mặt bằng lãi suất thực tế mà doanh nghiệp phải trả, trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao nhưng sức mua tại các thị trường xuất khẩu suy giảm. Theo ông Lĩnh, doanh nghiệp thủy sản đang gặp khó khi chi phí nguyên liệu, sản xuất tăng nhưng giá bán không thể điều chỉnh tương ứng. Tại các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, người mua vẫn thận trọng, không dễ chấp nhận mức giá cao hơn. Trong khi đó, việc tăng sản lượng cũng tiềm ẩn rủi ro nếu giá bán thấp và chi phí đầu vào chưa giảm. Trong bối cảnh đó, giảm lãi suất có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí tài chính, nhưng không phải mọi doanh nghiệp đều được hưởng mức giảm như nhau. Chính sách lãi suất của ngân hàng được thiết kế linh hoạt theo từng khách hàng, ngành hàng, thời hạn vay, tài sản bảo đảm và loại tiền vay. Ngân hàng đồng thời phải cân đối lãi suất cho vay với chi phí huy động vốn. Đối với ngành thủy sản, nhu cầu vốn còn biến động theo mùa vụ. Trước đó, doanh nghiệp cần vốn để thu mua nguyên liệu từ người nuôi tôm, tích trữ và tổ chức sản xuất. Từ nay đến cuối năm, doanh nghiệp bước vào giai đoạn đẩy mạnh chế biến, xuất khẩu nhằm đáp ứng đơn hàng dịp cuối năm và Tết. Ông Lĩnh kỳ vọng việc giảm lãi suất cùng các chính sách hỗ trợ khác sẽ giúp doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản, giảm bớt áp lực chi phí, duy trì hoạt động ổn định. Cùng quan điểm về yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp thực chất, ông Nguyễn Quang Huy - Chuyên gia Khoa Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi - cho rằng giảm lãi suất là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để giải quyết khó khăn về vốn của doanh nghiệp. Quan trọng hơn là doanh nghiệp có thể tiếp cận khoản vay đúng thời điểm, với quy mô và kỳ hạn phù hợp hay không. NGỌC MAI Nhiều ngân hàng cho vay ưu đãi với mức giảm lãi suất tới 2%. Tuy nhiên, theo đại diện nhiều doanh nghiệp và chuyên gia, điều quan trọng không chỉ là lãi suất thấp mà còn là khả năng tiếp cận vốn, tốc độ giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng, sức mua thị trường suy yếu. Ngân hàng BIDV giảm lãi suất cho khách hàng ẢNH: CTV Doanh nghiệp tiếp cận thế nào? Ông Nguyễn Quang Huy (Trường ĐH Nguyễn Trãi), cho rằng ngân hàng cần chủ động tiết giảm chi phí hoạt động, ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả quản trị, thu hồi nợ và xử lý nợ xấu để tạo dư địa giảm lãi suất. Đồng thời, việc hỗ trợ khách hàng cần đi cùng yêu cầu thẩm định chặt chẽ, kiểm soát rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống, tránh hạ chuẩn tín dụng. “Giảm lãi suất chỉ thực sự hữu ích khi doanh nghiệp vay được vốn, giải ngân kịp thời và tạo ra dòng tiền”, ông Huy nhấn mạnh. Theo Dragon Capital, để duy trì tăng trưởng GDP trên 10% mỗi năm, Việt Nam cần tổng vốn đầu tư khoảng 1.460 tỷ USD trong giai đoạn 20262030, gần gấp đôi giai đoạn trước. Tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần duy trì khoảng 40% GDP, trong đó khu vực tư nhân đóng góp khoảng 53%, ngân sách nhà nước 32% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khoảng 15%. Trong khi đó, dư nợ tín dụng của Việt Nam đã ở mức khoảng 145% GDP. Bà Đặng Nguyệt Minh - Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital - ước tính khoảng trống vốn của nền kinh tế lên tới 120-150 tỷ USD/năm cần được bù đắp thông qua các kênh như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ và những nguồn vốn dài hạn khác. Dragon Capital chỉ ra tín dụng ngân hàng hiện chiếm 82,8% nguồn tài trợ của nền kinh tế, trong khi thị trường cổ phiếu chiếm khoảng 4,1%, trái phiếu chiếm 13,1%. Cơ cấu này cho thấy thị trường vốn còn nhiều dư địa phát triển. Việt Nam đặt mục tiêu cải cách toàn diện, xây dựng thị trường tài chính thành kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế, vận hành theo nguyên tắc thị trường. Định hướng này được nêu trong Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045. Ông Bùi Minh Giáp - chuyên gia kinh tế trưởng ADB - cho rằng, cải cách tổng thể thị trường tài chính là bước đi quan trọng để hình thành cấu trúc cân đối hơn, nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực trong nước và quốc tế. Mục tiêu không phải giảm vai trò của ngân hàng, mà là phát triển các kênh vốn bổ trợ cho nhau, nhất là trong cung ứng vốn trung và dài hạn. Theo ông Giáp, phụ thuộc quá lớn vào tín dụng có thể làm gia tăng áp lực lạm phát và rủi ro chất lượng tài sản. Việc sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn trong thời gian dài còn làm tăng rủi ro kỳ hạn, lãi suất và áp lực lên điều hành chính sách tiền tệ. CHỨNG KHOÁN, TRÁI PHIẾU PHẢI THÀNH KÊNH DẪN VỐN Thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp theo phân loại của FTSE Russell từ ngày 21/9. Ông Bùi Hoàng Hải - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) - cho rằng nâng hạng mở ra cơ hội thu hút dòng vốn, nhưng khả năng duy trì sức hấp dẫn phụ thuộc vào chất lượng vận hành thực chất của thị trường. Theo ông Hải, thị trường cần nâng cao chất lượng hoạt động thị trường và doanh nghiệp niêm yết thông qua thúc đẩy chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) gắn với niêm yết, tạo điều kiện để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đủ điều kiện tham gia thị trường; thúc đẩy thoái vốn, niêm yết doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp cần nâng chuẩn quản trị, chất lượng báo cáo và công bố thông tin để tăng sức hấp dẫn với nhà đầu tư dài hạn. Phó Chủ tịch UBCKNN cho rằng thị trường cần hiện đại hóa hạ tầng, nâng cao năng lực quản lý, giám sát. Việc triển khai cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP) theo lộ trình cần đi đôi với ứng dụng công nghệ số, phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo nhằm nhận diện sớm rủi ro, nâng cao hiệu quả giám sát. Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng cân bằng, chuyên nghiệp hơn, tăng vai trò của nhà đầu tư tổ chức, phát triển ngành quỹ và các định chế đầu tư chuyên nghiệp; nâng cao kiến thức, năng lực quản trị rủi ro của nhà đầu tư cá nhân, khuyến khích đầu tư dài hạn và đầu tư thông qua quỹ. Thị trường cũng cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia. VIỆT LINH San sẻ gánh nặng vốn với ngân hàng Mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và các kênh vốn dài hạn là hướng đi cần thiết để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, mở rộng nguồn lực cho nền kinh tế. Cơ chế IPO và niêm yết đồng thời kỳ vọng đa dạng thêm hàng hoá cho thị trường (Ảnh minh họa)
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==