Báo Tiền Phong số 272

6 KHOA GIÁO n Thứ Ba n Ngày 29/9/2026 ĐẠI HỌC THỜI TRÍ TUỆ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO KHÓ THEO KỊP Từ thực tế phát triển xe tự hành, ông Đinh Vĩnh Cường, Chủ tịch Tập đoàn 365 Group, mô tả một phương tiện không có người cầm lái vẫn cần cả đội ngũ phía sau. Xe phải nhận biết vật cản qua camera, radar và cảm biến; di chuyển theo bản đồ được cập nhật; kết nối với trung tâm điều hành và hạ tầng sạc. Mỗi khâu đó đòi hỏi những kỹ năng khác nhau, từ AI, cơ khí, phần mềm đến an ninh mạng. Theo ông Cường, doanh nghiệp cần kỹ sư xử lý dữ liệu cảm biến để phương tiện nhận biết môi trường, kỹ sư xây dựng bản đồ và mô phỏng, kỹ sư hệ thống nhúng, robot cùng nhân sự hiểu về pháp lý công nghệ. Đây là những công việc khó gói gọn trong một ngành học truyền thống. “Chúng tôi thiếu kỹ sư vận hành, không phải người lái xe”, đại diện doanh nghiệp nêu vấn đề. Theo ông Cường, khi công nghệ thay đổi cách vận hành phương tiện, nhu cầu tuyển dụng cũng dịch chuyển. Một người học thuần túy cơ khí hoặc phần mềm có thể chưa đủ để xử lý toàn bộ bài toán của hệ thống tự hành. Từ đó, đại diện 365 Group đề xuất các trường tăng đào tạo liên ngành, tích hợp AI, robot và thị giác máy tính; đồng thời chú trọng hạ tầng năng lượng xanh như pin, trạm sạc thông minh… Doanh nghiệp cũng mong người học có ngoại ngữ để tiếp cận tài liệu kỹ thuật quốc tế. Câu chuyện máy bay không người lái trong nông nghiệp được ông Cường đưa ra như một ví dụ khác. Thiết bị đã đi vào sử dụng, nhưng theo đại diện doanh nghiệp, việc đào tạo và xác nhận năng lực người vận hành vẫn là vấn đề cần được làm rõ. Công nghệ có thể được đưa vào thực tế nhanh hơn tốc độ hình thành chương trình đào tạo tương ứng. Tuy nhiên, đặt hàng ngành nghề mới chỉ là một phía của bài toán. Ông Cường cho biết, doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận và đầu tư đào tạo sinh viên có năng lực, song cũng gặp trường hợp người học đến thực tập chủ yếu để lấy xác nhận. Theo ông, muốn hợp tác hiệu quả, trường cần tìm hiểu doanh nghiệp đang làm gì để đưa đúng sinh viên đến đúng vị trí, với nhiệm vụ học tập rõ ràng. ĐƯA AI VÀO LỚP CHƯA ĐỦ, PHẢI ĐỔI CẢ CÁCH HỌC PGS.TS Nguyễn Hữu Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học CMC, cho rằng, rào cản lớn không nằm ở việc trường có sử dụng AI hay không, mà ở cách tổ chức dạy và học. Nếu giảng viên dùng AI ra đề, sinh viên dùng AI trả lời, còn phương pháp đánh giá vẫn như cũ, công cụ có thể tham gia vào mọi công đoạn nhưng năng lực người học chưa chắc được cải thiện. Theo ông Quỳnh, khi AI có thể hỗ trợ tìm kiếm, giải thích và tổng hợp kiến thức, đại học cần dành nhiều thời gian hơn cho khả năng nhận diện vấn đề, kiểm tra thông tin, tìm lời giải và thực hiện công việc đến cùng. Vai trò của giảng viên cũng thay đổi: hướng dẫn sinh viên xử lý những điểm chưa rõ, phân tích tình huống và làm dự án, thay vì chỉ truyền đạt nội dung trên lớp. Trường Đại học CMC cho biết đã ứng dụng hệ sinh thái học tập số vào hơn 150 học phần và 500 lớp. Theo mô hình được nhà trường giới thiệu, sinh viên chuẩn bị kiến thức trước ở nhà; thời gian trên lớp tập trung thảo luận, giải quyết vấn đề và thực hiện dự án. Trường cũng hướng tới việc để sinh viên tham gia công việc tại doanh nghiệp với nhiệm vụ, thời hạn và yêu cầu kết quả cụ thể. Tuy nhiên, đưa sinh viên ra doanh nghiệp không đồng nghĩa mọi kỳ thực tập đều tạo ra trải nghiệm tốt. PGS.TS Trần Thị Mỹ Diệu, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang, cho biết, khi quy mô người học lớn, trường phải tổ chức thực tập theo nhiều chặng: từ tìm hiểu nghề nghiệp, thực hành một phần công việc đến thực tập tốt nghiệp. Sinh viên cần có giảng viên đồng hành và tiêu chí đánh giá để quá trình này không trở thành một khoảng thời gian tự xoay xở tại doanh nghiệp. Theo bà Diệu, mỗi doanh nghiệp thường chỉ có thể hướng dẫn tốt một nhóm nhỏ sinh viên trong cùng đợt. Vì vậy, trường phải xây dựng mạng lưới đối tác đủ rộng, đồng thời xác định người học đến doanh nghiệp để làm gì. Bà cũng nhấn mạnh nhu cầu nhận từ doanh nghiệp những “bài toán thật”, dữ liệu thật và điều kiện thực hành thật để đưa vào học tập, nghiên cứu. Một đề bài có thể được tiếp cận từ nhiều ngành: sinh viên kỹ thuật giải quyết phần công nghệ, sinh viên kinh doanh tìm cách triển khai, còn nhóm truyền thông nghiên cứu cách tiếp cận người dùng. Theo bà Diệu, những vấn đề thực tế ấy không chỉ giúp sinh viên học, mà còn giúp giảng viên xác định nghiên cứu của mình có thể giải quyết nhu cầu nào của xã hội. Một ví dụ về đào tạo gắn với công việc được bà Đinh Thị Tuyết Trinh, Giám đốc Đào tạo và Tuyển dụng Alta Group, chia sẻ qua chương trình “học kỳ doanh nghiệp”. Doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên năm cuối đại học, cao đẳng tham gia dự án sau khi các em đã có kiến thức nền tảng. Bà Trinh nhận xét, sinh viên nhìn chung đáp ứng phần kiến thức cơ bản, nhưng thường cần ít nhất sáu tuần đầu để làm quen với quy trình và cách triển khai dự án thực tế. Khoảng thời gian ấy cho thấy việc hoàn thành học phần ở trường và thích nghi với nhịp làm việc tại doanh nghiệp vẫn là hai yêu cầu khác nhau. Alta Group đã giới thiệu chương trình đào tạo song hành với 40-50 trường, nhưng theo bà Trinh, hiện mới có khoảng 4-5 trường tham gia và triển khai có hiệu quả. Số còn lại chủ yếu dừng lại ở mức ký kết, chưa hợp tác sâu. Bà cho rằng, có thể còn vướng mắc trong cơ chế nội bộ của các trường, dù chưa xác định cụ thể nằm ở khâu nào. Từ góc nhìn doanh nghiệp, đây là điểm Phải đổi cách đào tạo Xe tự hành cần kỹ sư xử lý dữ liệu và vận hành hệ thống; doanh nghiệp cần sinh viên bước vào dự án mà không mất quá lâu để làm quen… Tại Diễn đàn hợp tác nhà trường - doanh nghiệp năm 2026 ở TPHCM ngày 28/9, những yêu cầu ấy đặt ra câu hỏi cho đại học thời AI: chương trình học thay đổi nhanh đến đâu và ai cùng nhà trường đào tạo người học? Sinh viên khoa cơ khí một trường đại học thực tập tại doanh nghiệp ẢNH: NGUYỄN DŨNG CHUYỆN HÔM NAY Điều đáng nói là sau nhiều năm bàn về sự lệch pha giữa giảng đường và nơi làm việc, chúng ta vẫn chưa đo được khoảng cách ấy đã thu hẹp bao nhiêu. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Lê Quân đặt câu hỏi trực diện hơn: Người tốt nghiệp làm được gì? Theo ông, ngoại ngữ, năng lực số và năng lực thực hành phải được thể hiện rõ ở người học. Nếu một kỳ thực tập chủ yếu được đánh giá bằng bản báo cáo, nhà trường khó biết sinh viên đã xử lý công việc nào, doanh nghiệp cũng khó tin tấm bằng phản ánh đúng năng lực. Vấn đề ấy càng cần được đặt ra sau mỗi lễ ký kết hợp tác. Biên bản ghi nhớ có thể mở đầu quan hệ giữa trường và doanh nghiệp, nhưng số chữ ký không cho thấy sinh viên được học gì. Bao nhiêu người được tham gia dự án? Họ làm phần việc nào? Ai hướng dẫn, ai đánh giá? Có sản phẩm hoặc kỹ năng cụ thể nào sau kỳ thực tập? Nếu những câu hỏi này bỏ trống, hợp tác rất dễ dừng ở việc đưa sinh viên đến doanh nghiệp và lấy giấy xác nhận. Đại diện một doanh nghiệp kể rằng, qua nhiều năm tiếp nhận sinh viên, họ gặp cả những bạn mong muốn học việc lẫn những bạn chủ yếu cần con dấu thực tập. Không nên chỉ trách người học. Một khi trường không giao nhiệm vụ rõ ràng, doanh nghiệp không bố trí người hướng dẫn và kết quả được tính bằng việc nộp đủ hồ sơ thì sinh viên khó xem thực tập là cơ hội để trưởng thành nghề nghiệp. Khảo sát do Navigos Group trình bày cũng gợi ra một khoảng lệch trong ưu tiên kỹ năng. Trong nhóm được hỏi, 39% nhà tuyển dụng chọn khả năng thích ứng, linh hoạt; 34% chọn kỹ năng giải quyết vấn đề ở nhân sự mới. Người tìm việc lại ưu tiên học năng lực sử dụng công nghệ và kiến thức về AI, dữ liệu lớn. Các tỷ lệ này không chứng minh ứng viên thiếu kỹ năng nào nhưng nhắc nhà trường rằng, biết dùng công cụ thôi chưa đủ. Sinh viên còn phải biết xác định vấn đề, kiểm tra kết quả và điều chỉnh cách làm khi công việc thay đổi. PGS.TS Trần Thị Mỹ Diệu, Hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, đề nghị doanh nghiệp đưa những “bài toán thật” vào trường. Đây là cách hợp tác có thể bắt đầu từ lúc sinh viên còn học, thay vì chờ đến kỳ thực tập cuối khóa. Với một yêu cầu thực tế, giảng viên có đề bài để hướng dẫn, sinh viên có cơ hội thử và sửa, còn doanh nghiệp có thể quan sát cách người học giải quyết công việc. Đổi lại, doanh nghiệp cũng cần góp sức. Không thể yêu cầu sinh Lệch pha TIẾP THEO TRANG 1

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==