8 n Thứ Sáu n Ngày 18/9/2026 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ Bởi thế, không gian văn hóa cộng đồng không nên được xem là phần bổ sung cho hạ tầng đô thị. Đó phải là một thành tố của chính đời sống thành phố - nơi con người gặp nhau và nơi văn hóa được hình thành, trao truyền từ những tương tác đời thường. KHÔNG GIAN CHỈ THỰC SỰ “SỐNG” KHI CÓ CỘNG ĐỒNG Khi nói đến không gian văn hóa cộng đồng, người ta thường nghĩ tới nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng hay trung tâm văn hóa. Đây là những thiết chế quan trọng, nhưng nếu chỉ đồng nhất không gian văn hóa với những công trình được xây dựng sẵn thì cách nhìn ấy vẫn còn hẹp. Một công viên, quảng trường, vườn hoa, phố đi bộ, sân chung cư, khu di sản hay địa điểm sáng tạo đều có thể trở thành không gian văn hóa cộng đồng khi người dân có thể tiếp cận, sử dụng và tham gia vào những hoạt động có ý nghĩa. Vì thế, giá trị của một không gian không chỉ nằm ở kiến trúc, diện tích hay mức đầu tư, mà còn ở sức sống xã hội được tạo ra trong quá trình sử dụng. Điều này càng rõ trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra nhanh. Ở nhiều khu đô thị mới, cư dân đến từ nhiều vùng miền, khác nhau về nghề nghiệp, tuổi tác và lối sống. Những mối quan hệ cộng đồng vốn được hình thành từ sự quen biết lâu năm nay không còn là nền tảng duy nhất. Người dân cần những cơ hội mới để gặp gỡ và tạo dựng sự gắn kết. Một buổi đọc sách, một câu lạc bộ thể thao, hoạt động nghệ thuật hay chương trình dành cho trẻ em có thể trở thành điểm khởi đầu cho những mối quan hệ giữa những người vốn xa lạ. Một không gian đẹp nhưng vắng hoạt động khó tạo nên cộng đồng; trong khi một khoảng sân nhỏ, nếu thường xuyên có người gặp gỡ, vui chơi, trò chuyện, lại có thể trở thành một phần ký ức của cả khu dân cư. TỪ “LÀM CHO CỘNG ĐỒNG” ĐẾN “LÀM CÙNG CỘNG ĐỒNG” Ở Việt Nam, yêu cầu đổi mới cách nhìn về không gian văn hóa cộng đồng càng trở nên rõ nét trong bối cảnh đô thị hóa, chuyển đổi số và tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương. Những định hướng mới về phát triển văn hóa nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân. Nghị quyết số 80-NQ/TW năm 2026 đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa cơ sở phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, lấy khu dân cư làm hạt nhân và người dân làm chủ thể. Từ đó, phát triển đời sống văn hóa không thể chỉ dừng ở việc xây dựng thiết chế hay tổ chức những chương trình từ trên xuống, mà cần bắt đầu nhiều hơn từ nhu cầu và khả năng tham gia của cư dân. Trong thực tế, hiệu quả của không gian văn hóa vẫn thường được nhìn qua những chỉ số dễ đo đếm: có bao nhiêu công trình, diện tích bao nhiêu, mức đầu tư thế nào. Những con số đó cần thiết nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là công trình có thực sự bước vào đời sống hằng ngày hay không. Một nhà văn hóa khang trang nhưng ít mở cửa, hoạt động nghèo nàn thì hiệu quả xã hội vẫn hạn chế. Ngược lại, một không gian nhỏ nhưng thường xuyên được sử dụng, có sự tham gia và sáng tạo của cư dân lại có thể tạo ra sức gắn kết lớn hơn nhiều. Bởi vậy, quản trị văn hóa cần chuyển từ tư duy “làm cho cộng đồng” sang “làm cùng cộng đồng”. Người dân không chỉ là đối tượng đến dự một chương trình đã được chuẩn bị sẵn. Họ cần được tham gia từ việc xác định nhu cầu, đề xuất nội dung, tổ chức hoạt động đến phản hồi và đánh giá. Khi cộng đồng được trao quyền tham gia, không gian văn hóa mới có cơ hội trở thành một phần tự nhiên của đời sống. Kinh nghiệm tại Seoul hay Copenhagen cho thấy sự tham gia của cộng đồng chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng cơ chế hỗ trợ và những không gian đủ linh hoạt để người dân chủ động sử dụng. Điều đáng tham khảo ở đây không phải là sao chép một mô hình, mà là tư duy coi cộng đồng như một chủ thể cùng kiến tạo đời sống văn hóa. Ở trong nước, Hà Nội có lợi thế với hệ thống không gian công cộng gắn với di sản, ký ức và bản sắc đô thị. TPHCM phát triển các thiết chế gắn với Không gian văn hóa Hồ Chí Minh; Đà Nẵng chú trọng kết nối không gian công cộng với nghệ thuật cộng đồng, di sản và du lịch. Cách làm có thể khác nhau, nhưng điểm chung là một thiết chế chỉ thực sự có ý nghĩa khi bên trong nó có hoạt động và bên ngoài nó có cộng đồng. Một đô thị hiện đại không chỉ được nhận diện bằng những đại lộ rộng, những tòa nhà cao tầng hay hệ thống dịch vụ tiện nghi. Sức sống của thành phố còn nằm ở những nơi cư dân có thể dừng lại, gặp gỡ, trò chuyện, cùng tham gia hoạt động văn hóa, chia sẻ ký ức và cảm nhận mình thuộc về một cộng đồng. KHI DU KHÁCH CHẠM TAY VÀO TRẦM TÍCH VĂN HÓA Trong không gian trưng bày của Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk, những chiếc mão, mặt nạ nhiều màu sắc thu hút ánh nhìn của du khách. Giữa không gian thoang thoảng mùi sơn bồi, mùi keo dán truyền thống và ánh sáng được sắp đặt khéo léo, mỗi chiếc mặt nạ như đang thì thầm kể lại câu chuyện huyền thoại văn hoá của người Khmer. Đứng lặng hồi lâu trước chiếc mặt nạ thần Chằn (Yeak) với đôi mắt lồi hung tợn và các vệt sơn màu xanh lục sắc sảo. Chị Nguyễn Khánh Thương, một du khách tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk chia sẻ, chị quen với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, nên khi trải nghiệm tham quan về nghề làm mão, mặt nạ, thấy khá mới lạ. Ngắm nhìn tận mắt thấy sự tỉ mỉ của người thợ. Đường nét uốn lượn trên từng chiếc mão tinh xảo khiến người xem có cảm giác nhân vật đó thực sự có hồn. Mỗi chiếc mão, mặt nạ gắn liền với một nhân vật lịch sử, huyền thoại riêng biệt. Bàn tay tài hoa các nghệ nhân liên tục cải tiến nét vẽ, tạo hình để tăng thêm sự hấp dẫn, gần gũi với công chúng mà không làm mất đi tính nguyên bản. Khắc họa từ ánh mắt hung tợn của thần Chằn (Yeak), nụ cười tinh anh của Khỉ thần Hanuman cho đến nét từ hòa của tiên nữ Tevoda. Lần đầu tiếp xúc với văn hóa Khmer, chị Nguyễn Thanh Vân (17 tuổi, Đắk Lắk) cho hay, lần đầu được tận mắt quan sát từ cốt giấy bồi đến lớp sơn thếp vàng, tôi mới hiểu vì sao nghề này lại được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nó là cả một kho tàng tri thức dân gian chứ không chỉ là chiếc mặt nạ hóa trang thông thường. Trước mặt người nghệ nhân là những vật liệu tưởng chừng rất đỗi bình thường: vài mảnh vải, giấy, gỗ cùng những dụng cụ thủ công. Đôi tay đen nhẻm của nghệ nhân Kim Mạnh (SN 1966), cần mẫn uốn từng đường nét cho chiếc mão Reamker, chiếc mặt nạ Yeak (chằn). Từng lớp vật liệu được tạo tác, từng đường nét được chăm chút, màu sắc được phối hợp, hiện lên một chiếc mão, mặt nạ mang dáng vẻ của một nhân vật sân khấu Khmer. Nguyên vật liệu để chế tác mão, mặt nạ theo phương pháp truyền thống của người Khmer là sử dụng vải, giấy kết hợp chất kết dính, chất tạo màu từ cây trái có sẵn trong tự nhiên. Để làm ra một chiếc mão hay mặt nạ đạt chuẩn dùng cho biểu diễn, người thợ phải trải qua hàng chục công đoạn phức tạp, đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ. Nghề này đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về thần thoại, sử thi. Mỗi màu sắc, góc mày, khuôn miệng đều có quy chuẩn riêng. Mỗi sản phẩm không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn chứa đựng tri thức dân gian, phản ánh quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và khát vọng hướng đến cái đẹp, cái thiện. Không chỉ được ngắm nhìn những sản phẩm thủ công với màu sắc, hoa văn và hình dáng đặc trưng, nhiều du khách thích thú trực tiếp quan sát nghệ nhân Những du khách hay người trẻ lần đầu trải nghiệm thực tế tại không gian trưng bày nghề làm mão, mặt nạ mới cảm nhận hết được sự tinh tế của người thợ chế tác. Mỗi chiếc mão, mặt nạ được tạo ra không đơn thuần là đạo cụ biểu diễn, mà là một tác phẩm nghệ thuật, dấu ấn văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Nghệ nhân ưu tú Kim Mạnh chia sẻ về nghề làm mão, mặt nạ truyền thống của người Khmer Người dân luôn cần có một không gian văn hóa cộng đồng an toàn, hấp dẫn Mặt nạ kể chuyện văn hóa Khmer Khi không gian đô thị thuộc về cộng đồng Một thành phố có thể rất hiện đại nhưng vẫn lạnh nếu con người không có chỗ để gặp nhau. Ngược lại, chỉ một khoảng sân nhỏ, một thư viện mở cửa mỗi ngày, một quảng trường có người trò chuyện hay một công viên đầy tiếng trẻ em cũng có thể làm nên hơi ấm của đô thị. PHÓNG SỰ nNGUYỄN THẢO
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==