Báo Tiền Phong số 252

3 n Thứ Tư n Ngày 9/9/2026 THỜI SỰ Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Nga từ ngày 7-9/9, PV Tiền Phong có cuộc trao đổi với GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ - Chủ tịch Viện Công nghệ VinIT, Giáo sư của Đại học Năng lượng Quốc gia Mátxcơva, về dư địa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân và khoa học - công nghệ. NGUỒN LỰC ỔN ĐỊNH, ĐẦU MỐI CHỊU TRÁCH NHIỆM Theo ông, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này sẽ tạo ra chuyển biến gì cho hợp tác Việt - Nga trong những lĩnh vực khoa học - công nghệ mà Việt Nam đang ưu tiên thúc đẩy? GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ: Tôi kỳ vọng chuyến thăm sẽ tạo thêm động lực chính trị để quan hệ Việt - Nga bước sang một giai đoạn hợp tác thực chất, hướng vào những lĩnh vực có thể tạo năng lực mới cho cả hai bên. Các thông tin công bố về chuyến thăm nhấn mạnh việc mở rộng hợp tác ngoài các lĩnh vực truyền thống sang năng lượng, khoa học - công nghệ, y tế và các lĩnh vực phát triển mới. Đây là tín hiệu thuận lợi để các cơ quan, viện trường và doanh nghiệp chuyển các định hướng cấp cao thành chương trình cụ thể. Với khoa học - công nghệ, điều quan trọng sau chuyến thăm không chỉ là ký thêm các biên bản ghi nhớ, mà là có các cơ chế triển khai. Tôi mong sẽ hình thành các quỹ hoặc chương trình đồng tài trợ cho đề tài chung, các phòng thí nghiệm liên kết, chương trình đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, trao đổi nhà khoa học trẻ và mạng lưới kết nối doanh nghiệp - viện trường. Khi có nguồn lực ổn định và đầu mối chịu trách nhiệm, hợp tác sẽ bền vững hơn. Đối với Việt Nam, các ưu tiên như năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, vật liệu mới, y sinh, môi trường và không gian đều cần đối tác có năng lực khoa học sâu. Thông tin về chuyến công tác cũng cho thấy chương trình có nội dung liên quan đến hợp tác không gian vũ trụ. Điều đó gợi mở một tầm nhìn rộng hơn: khoa học - công nghệ có thể trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nga. Tôi tin chuyển biến lớn nhất sẽ đến khi các nhà khoa học được trao cơ hội chủ động: cùng đề xuất đề tài, cùng làm chủ dữ liệu và thiết bị, cùng công bố và cùng đưa kết quả vào đời sống. Khi đó, hợp tác không chỉ được đo bằng số đoàn trao đổi hay số văn bản ký kết, mà bằng công nghệ được ứng dụng, đội ngũ được trưởng thành và những giá trị cụ thể đóng góp cho phát triển của hai nước Việt - Nga. KHÔNG CHỜ BẠN ĐỀ XUẤT ĐỀ TÀI Ngày nay, hợp tác Việt - Nga đang chuyển từ mô hình đào tạo và hỗ trợ sang cùng nghiên cứu, cùng phát triển công nghệ. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để thực sự trở thành một đối tác khoa học của Nga? Tôi nghĩ khái niệm “đối tác khoa học” đòi hỏi một sự thay đổi về tư duy. Chúng ta không nên chỉ chờ phía bạn đề xuất đề tài, cung cấp công nghệ hay đào tạo nhân lực, mà phải có năng lực xác định bài toán của chính mình và đưa ra các đề xuất hợp tác có giá trị. Khi Việt Nam biết rõ mình cần giải quyết vấn đề gì, có đội ngũ đủ năng lực và có cơ chế triển khai, hợp tác mới thực sự bình đẳng và hiệu quả. Việc đầu tiên là lựa chọn đúng các ưu tiên. Không nên dàn trải ở quá nhiều lĩnh vực mà cần tập trung vào những hướng vừa phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam, vừa có thế mạnh bổ trợ của Nga, như năng lượng hạt nhân, plasma và vật liệu mới, công nghệ sinh học, y học hạt nhân, công nghệ số, tự động hóa, hàng không - vũ trụ, môi trường và nông nghiệp công nghệ cao. Mỗi hướng cần có một chương trình hợp tác đủ dài để kết quả nghiên cứu có thời gian chín muồi. Việc thứ hai là đầu tư vào năng lực trong nước. Nếu phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu và cơ chế tài chính của ta còn manh mún, các dự án quốc tế rất dễ chỉ dừng ở trao đổi đoàn hoặc công bố chung. Việt Nam cần xây dựng các nhóm mạnh có khả năng tiếp nhận công nghệ, làm chủ một phần công nghệ và phát triển tiếp theo điều kiện của mình. Hợp tác quốc tế tốt nhất là hợp tác làm tăng nội lực chứ không tạo ra sự phụ thuộc. Việc thứ ba là tổ chức nghiên cứu theo sản phẩm và chuẩn mực quốc tế. Một đề tài chung cần trả lời rõ: bài toán là gì, sản phẩm khoa học hoặc công nghệ nào sẽ được tạo ra, quyền sở hữu trí tuệ được xử lý ra sao, đơn vị nào sẽ ứng dụng, kinh phí và trách nhiệm của mỗi bên như thế nào. Các tiêu chí đó giúp các nhà khoa học chuyển từ giao lưu sang đồng phát triển công nghệ. Cuối cùng, rất cần tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ. Họ cần được tham gia từ đầu vào các dự án chung, được làm việc dài hạn tại phòng thí nghiệm đối tác và được trao quyền khi trở về. Có như vậy, hợp tác hôm nay mới tạo được lớp kế cận cho 10 - 20 năm sau. Việt Nam đã ký thỏa thuận với Nga về xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Nếu nhìn vấn đề năng lượng hạt nhân không chỉ dưới góc độ một dự án điện mà là một “hệ sinh thái khoa học - công nghệ”, ông nhìn nhận như thế nào về triển vọng hợp tác Việt - Nga trong lĩnh vực này? Tôi cho rằng cần nhìn điện hạt nhân như một chương trình khoa học - công nghệ và công nghiệp tổng hợp của quốc gia. Một nhà máy điện hạt nhân không chỉ là nơi phát điện; đằng sau nó là hệ thống rất lớn về thiết kế, xây dựng, vận hành, an toàn, kiểm định, bảo đảm chất lượng, vật liệu, điều khiển, pháp quy, quản lý chất thải, ứng phó sự cố và truyền thông với công chúng. Nếu chuẩn bị tốt, đây sẽ là động lực nâng cao mặt bằng công nghệ của nhiều ngành trong nước. Theo thông tin được công bố về hợp tác Việt - Nga, dự án Ninh Thuận 1 được định hướng gồm hai tổ máy, tổng công suất dự kiến khoảng 2.400 MW, sử dụng công nghệ VVER-1200 của Rosatom. Ý nghĩa của thông tin này là Việt Nam cần sớm chuẩn bị đồng bộ nguồn nhân lực, cơ chế quản trị và năng lực kỹ thuật tương ứng, thay vì chỉ chuẩn bị cho phần xây dựng nhà máy. Ở góc độ hệ sinh thái, điều quan trọng là xây dựng được chuỗi liên kết giữa cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương. Các trường cần đào tạo kỹ sư và chuyên gia; viện nghiên cứu phải làm chủ các vấn đề an toàn, vật liệu, mô phỏng và đo lường; doanh nghiệp phải tham gia từng bước vào chuỗi cung ứng phù hợp; còn cơ quan quản lý cần xây dựng năng lực pháp quy độc lập và minh bạch. Hợp tác với Nga có thể hỗ trợ Việt Nam ở nhiều tầng nấc: từ đào tạo tại các cơ sở chuyên ngành, thực tập tại nhà máy và viện nghiên cứu, chuyển giao kinh nghiệm xây dựng tiêu chuẩn, cho tới triển khai các đề tài nghiên cứu chung. Tuy nhiên, nguyên tắc xuyên suốt phải là an toàn cao nhất, tuân thủ pháp luật, đánh giá khoa học độc lập và công khai thông tin một cách có trách nhiệm đối với người dân. Nếu làm tốt, dự án có thể tạo ra những hiệu ứng tích cực cho khoa học Việt Nam: Nâng cao năng lực tính toán, công nghệ cảm biến, tự động hóa, vật liệu, cơ khí chính xác và quản trị dự án lớn. Đây chính là cách nhìn dài hạn: phát triển điện hạt nhân đi cùng phát triển năng lực quốc gia. Cảm ơn ông. THU LOAN (thực hiện) Giá trị lớn nhất của hợp tác khoa học Việt - Nga không chỉ được đo bằng số người từng học tập tại Nga hay số công trình đã hoàn thành. Chương trình chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Nga lần này có nội dung liên quan đến hợp tác không gian vũ trụ, gợi mở một tầm nhìn rộng hơn. GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ (trái) trong phòng thí nghiệm thuộc ĐH Năng lượng Quốc gia Mátxcơva ẢNH: NVCC GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ là chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng plasma nhiệt độ thấp. Ông từng học tại Đại học Bách khoa Leningrad (Đại học Bách khoa Saint Petersburg), làm việc trong Phòng thí nghiệm trọng điểm của Nga về Vật lý và Công nghệ Plasma. Ông từng được trao nhiều giải thưởng, bằng khen từ Hội đồng khoa học, Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Leningrad và Hội đồng thành phố Leningrad vì những thành tích trong nghiên cứu khoa học. Việt Nam cần làm gì để trở thành đối tác khoa học của Nga? nhất trí tăng cường chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chuyên môn và phối hợp giữa các cơ quan chức năng trên cơ sở phù hợp với pháp luật của mỗi nước và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Nga tiếp tục có tiếng nói và đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực. BÌNH GIANG Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kêu gọi đồng bào ta ở nước ngoài chủ động tham gia sâu rộng hơn vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cộng đồng người Việt Nam tại Nga tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau; tích cực hội nhập, chấp hành tốt pháp luật sở tại; xây dựng một cộng đồng Việt Nam văn minh, năng động, trách nhiệm và giàu bản sắc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn các nhà khoa học, chuyên gia, trí thức người Việt Nam tại Nga, với kiến thức, kinh nghiệm và mạng lưới hợp tác quý báu của mình, tiếp tục phát huy tinh thần sáng tạo, bản lĩnh và trách nhiệm, là lực lượng tiên phong kết nối tri thức, khoa học, công nghệ và các sáng kiến hợp tác mới; các doanh nhân người Việt Nam tại Nga tiếp tục là những hạt nhân thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư; kết nối doanh nghiệp hai nước; góp phần mở rộng những lĩnh vực hợp tác mới, phù hợp với tiềm năng và nhu cầu phát triển của cả Việt Nam và Nga. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn thế hệ trẻ luôn nuôi dưỡng khát vọng vươn lên, không ngừng học tập, làm chủ tri thức mới, tự tin hội nhập với thế giới, viết tiếp câu chuyện hữu nghị Việt Nam - Nga trong thế kỷ XXI bằng trí tuệ, tinh thần cởi mở, tài năng và trách nhiệm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các Cơ quan đại diện Việt Nam tại Liên bang Nga cần tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược; nỗ lực hơn nữa để triển khai các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước nhằm làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga trên tất cả các lĩnh vực; tiếp tục quan tâm và hỗ trợ hoạt động của bà con và các tổ chức hội đoàn, làm tốt hơn nữa công tác bảo hộ công dân, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo điều kiện để bà con, nhất là thế hệ trẻ, tham gia đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ, phát triển đất nước. BÌNH GIANG Đánh giá Nga có nhiều kinh nghiệm, năng lực khoa học - công nghệ và cơ sở công nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên nghiên cứu khả năng hợp tác đóng mới, sửa chữa, bảo dưỡng tàu và chuyển giao công nghệ, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của Việt Nam.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==