Báo Tiền Phong số 237

10 n Thứ Ba n Ngày 25/8/2026 TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG Cuối tháng 8 này, thanh khoản hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt và Ngân hàng Nhà nước liên tục có các giải pháp hỗ trợ nguồn vốn. Nhưng nghịch lý là mặt bằng lãi suất huy động vẫn ở mức cao. Đến giữa tháng 8, có 8 ngân hàng niêm yết lãi suất từ 7%/năm trở lên cho kỳ hạn 12 tháng. ACB dẫn đầu với 7,8%/năm; LPBank và Saigonbank cùng 7,2%; Bac A Bank 7,1%. Một số ngân hàng khác như MBV, PGBank, Sacombank, VCBNeo và VIB cũng ở mức 7%. Trong khi đó, nhóm Big4 duy trì khoảng 6,8%/năm. Điều đáng chú ý là mặt bằng lãi suất cao không còn đơn thuần phản ánh tình trạng thiếu thanh khoản ngắn hạn. Vấn đề lớn hơn nằm ở cung - cầu vốn và cơ cấu nguồn vốn của hệ thống. Tín dụng đang tăng nhanh hơn huy động. Khi nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư công và hạ tầng cùng gia tăng, ngân hàng phải cạnh tranh để thu hút tiền gửi, nhất là nguồn vốn trung và dài hạn. Vì vậy, dù thanh khoản liên ngân hàng được cải thiện, lãi suất trên thị trường 1 (huy động từ tổ chức dân cư - NV) vẫn chịu sức ép. Nói cách khác, nới thanh khoản không đồng nghĩa với tiền rẻ. Đây cũng là lý do việc dự báo lãi suất cần nhìn xa hơn những biến động ngắn hạn. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động, dư địa giảm sâu lãi suất sẽ hạn chế. Một số ngân hàng có thể giảm lãi suất khi thanh khoản thuận lợi hoặc cần thúc đẩy tín dụng, nhưng khó hình thành một xu hướng giảm đồng loạt và bền vững. Mối liên hệ với bất động sản càng khiến bài toán này đáng chú ý. Đến cuối tháng 6/2026, tổng giá trị bất động sản được sử dụng làm tài sản thế chấp tại 17 ngân hàng được thống kê đạt khoảng 12,04 triệu tỷ đồng, tăng 626.000 tỷ đồng, tương đương 5,5% so với cuối năm 2025. Cần phân biệt rõ: đây không phải dư nợ tín dụng bất động sản, mà là giá trị bất động sản dùng làm tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, con số này cho thấy bất động sản đang có mức độ gắn kết rất lớn với bảng cân đối của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, lãi suất sẽ tiếp tục là một biến số quan trọng đối với thị trường địa ốc. Khi chi phí vốn giảm, sức mua và khả năng tiếp cận tín dụng được cải thiện, thanh khoản bất động sản có thể tăng. Nhưng khi vốn vẫn đắt, ngân hàng sẽ phải thận trọng hơn với những dự án có tính đầu cơ cao, dòng tiền yếu hoặc phụ thuộc lớn vào đòn bẩy. Điều này có thể tạo ra một đặc điểm đáng chú ý của thị trường giai đoạn tới: bất động sản phục hồi nhưng phân hóa. Những dự án có pháp lý đầy đủ, chủ đầu tư có năng lực tài chính, sản phẩm đáp ứng nhu cầu ở thực và có khả năng tạo dòng tiền sẽ có lợi thế tiếp cận vốn. Ngược lại, những tài sản chủ yếu dựa vào kỳ vọng tăng giá sẽ khó trở lại thời kỳ tăng nóng. Đây cũng là quá trình hệ thống ngân hàng chuyển từ tăng trưởng tín dụng theo lượng sang kiểm soát chất lượng tín dụng. Bất động sản không nhất thiết bị “siết” đồng loạt, nhưng dòng vốn sẽ được lựa chọn kỹ hơn. Với lãi suất, kịch bản cơ sở từ nay đến cuối năm là duy trì ở vùng tương đối cao, dao động và phân hóa giữa các ngân hàng, thay vì bước ngay vào một chu kỳ giảm sâu. Áp lực có thể gia tăng vào những thời điểm nhu cầu tín dụng tăng mạnh, đặc biệt khi đầu tư công, hạ tầng và sản xuất kinh doanh cùng cần vốn. Điều này có nghĩa thị trường đang bước sang một trạng thái khác sau thời kỳ tiền rẻ. Khi chi phí vốn trở thành một biến số thực, giá tài sản sẽ khó chỉ dựa vào kỳ vọng. Dòng tiền sẽ có xu hướng tìm đến những tài sản tạo ra giá trị và dòng tiền thực. Với bất động sản, đó là sự dịch chuyển từ “mua để chờ tăng giá” sang “mua tài sản có khả năng sử dụng và khai thác”. Với ngân hàng, đó là yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng, chi phí vốn và chất lượng tài sản. Lãi suất chưa chắc tăng mạnh, nhưng khó giảm sâu. Tín dụng vẫn tăng, nhưng chọn lọc hơn. Bất động sản tiếp tục hồi phục, nhưng khó tăng giá đồng loạt. Đó có thể là chuẩn mới của thị trường trong giai đoạn tới: vốn có giá, tài sản phải có giá trị và tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào dòng tiền thực. KHÁNH MINH Khi vốn không còn rẻ GÓC NHÌN TÀI CHÍNH DỮ LIỆU TRỞ THÀNH “TÀI SẢN” PHÍA SAU GIAO DỊCH Chuyển đổi số trong ngân hàng chưa bao giờ là một dự án có điểm bắt đầu và kết thúc cụ thể. Đây là quá trình liên tục, gắn với sự phát triển của công nghệ, thay đổi hành vi khách hàng và yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế số. Từ số hóa quy trình, phát triển ngân hàng điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt đến kết nối dữ liệu dân cư và xây dựng hệ sinh thái số, ngành ngân hàng liên tục đưa hoạt động lên môi trường trực tuyến. Nhưng khi những giao dịch cơ bản đã có thể thực hiện trên điện thoại, câu hỏi đặt ra không còn đơn giản là “có thể số hóa thêm gì”, mà là tạo ra giá trị gì từ nguồn dữ liệu đã hình thành. Ông Lê Anh Dũng - Phó vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước cho biết, hành trình chuyển đổi số những năm gần đây cho thấy ngành ngân hàng đã đi qua nhiều lớp phát triển. Năm 2022, chuyển đổi số được xác định là con đường tất yếu; năm 2023 tập trung số hóa quy trình lõi và khai thác dữ liệu dân cư; năm 2024 đẩy mạnh kết nối liên ngành, liên lĩnh vực; năm 2025 hướng tới hệ sinh thái thông minh, lấy khách hàng làm trung tâm. Bước sang năm 2026, trọng tâm được đặt vào việc tối ưu lợi thế dữ liệu và tạo đột phá nhờ AI. Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước, trong 5 năm qua, hệ thống thanh toán trực tuyến tăng bình quân 30%/năm; hệ thống chuyển mạch, bù trừ điện tử tăng 50,2%/ năm về số lượng và 30,85%/năm về giá trị. Đến hết năm 2025, 89% người trưởng thành có tài khoản thanh toán, trong khi giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 28 lần GDP. Thanh toán qua thiết bị di động tăng bình quân 73,23%/năm về số lượng và 52,5%/năm về giá trị. Những con số này cho thấy thanh toán số đã trở thành một phần của hạ tầng kinh tế. Cùng với đó, dữ liệu phát sinh từ các giao dịch ngày càng có ý nghĩa đối với hoạt động ngân hàng. Đến hết ngày 31/7/2026, toàn ngành đã đối chiếu sinh trắc học thành công cho khoảng 168 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và 2,8 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức. Giá trị của việc làm sạch dữ liệu không chỉ nằm ở xác thực danh tính. Dữ liệu chính xác giúp ngân hàng hạn chế tài khoản rác, mạo danh, nâng chất lượng đánh giá khách hàng, đồng thời tạo cơ sở cho phân tích và dự báo. Nếu số hóa giao dịch tạo ra “dòng chảy số”, dữ liệu chính là hạ tầng để ngân hàng khai thác giá trị từ dòng chảy đó. Bởi vậy, mức độ chuyển đổi không thể chỉ đo bằng số lượng ứng dụng hay tỷ lệ giao dịch trực tuyến. Một ngân hàng có thể sở hữu ứng dụng hiện đại nhưng vẫn chưa thực sự chuyển đổi nếu dữ liệu phân tán, các hệ thống thiếu kết nối và chưa hình thành năng lực khai thác dữ liệu để hiểu khách hàng. AI ĐƯA NGÂN HÀNG VÀO CUỘC TÁI THIẾT PHÍA SAU MÀN HÌNH Theo ông Bùi Quang Cương - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Khối Công nghệ thông tin TPBank, AI đang trở thành một năng lực cốt lõi của ngân hàng số, không còn chỉ phục vụ tự động hóa một số công việc nội bộ. “Điểm quan trọng là AI đang đưa ngân hàng từ mô hình ‘một sản phẩm cho nhiều khách hàng’ sang ‘đúng sản phẩm - đúng khách hàng - đúng thời điểm’”, ông Cương nhấn mạnh. Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Lưu Danh Đức - Phó Tổng Giám đốc phụ trách Công nghệ thông tin Sacombank cho biết, chương trình kéo dài 3 năm, trước hết tập trung hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, hướng tới hoàn thiện private cloud và public cloud. Ở lớp ứng dụng, ngân hàng nâng cấp core banking, hệ thống thẻ cùng các giải pháp phục vụ khách hàng, bán hàng và quản trị rủi ro. Sacombank đồng thời chuẩn hóa các hệ thống dữ liệu và xây dựng data lakehouse, tạo nền tảng khai thác AI, qua đó nâng cao tiện ích cho khách hàng, năng suất vận hành, kinh doanh và quản trị. Vì thế, cuộc đua AI thực chất đang kéo cuộc đua ngân hàng quay về những nền tảng ít “hào nhoáng” hơn: kiến trúc công nghệ, chất lượng dữ liệu và khả năng kết nối hệ thống. Sacombank mới bắt đầu triển khai AI để cá nhân hóa sản phẩm, đồng thời phát triển nền tảng Mobile Banking và Internet Banking mới dành cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và hộ kinh doanh, kết hợp AI trên các nền tảng này. Đây là bước chuyển đáng chú ý. Ngân hàng số thế hệ mới không chỉ đáp ứng những giao dịch khách hàng chủ động yêu cầu, mà hướng tới khả năng nhận diện nhu cầu, gợi ý sản phẩm và tạo thêm giá trị từ nguồn tiền của khách hàng. AI vì vậy có thể thay đổi không chỉ trải nghiệm, mà cả cách ngân hàng phát triển sản phẩm, quản lý quan hệ khách hàng và phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, khi công nghệ này tham gia ngày càng sâu vào các quyết định tài chính, yêu cầu về chất lượng dữ liệu và năng lực quản trị cũng lớn hơn. NGỌC MAI TỪ GIAO DỊCH SỐ ĐẾN NGÂN HÀNG THÔNG MINH: Cuộc đua mới dữ liệu và AI Từ số hóa giao dịch, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt đến kết nối dữ liệu dân cư, chuyển đổi số đang đưa ngành ngân hàng sang một nấc thang mới. Khi AI ngày càng tham gia sâu vào hoạt động ngân hàng, lợi thế cạnh tranh sẽ không còn nằm ở việc có bao nhiêu ứng dụng, mà ở khả năng biến dữ liệu thành giá trị, đồng thời kiểm soát tốt những rủi ro phát sinh trong môi trường số. Dữ liệu sạch tạo “lá chắn” cho giao dịch số Ngân hàng Nhà nước đã triển khai xác thực sinh trắc học, làm sạch dữ liệu theo Đề án 06 và hệ thống SIMO cảnh báo sớm tài khoản nghi ngờ gian lận. Đến hết tháng 6/2026, SIMO đã phát hơn 4,6 triệu lượt cảnh báo; hơn 1,5 triệu giao dịch được khách hàng chủ động dừng sau cảnh báo, góp phần bảo vệ khoảng 5.200 tỷ đồng trước nguy cơ gian lận. AI có thể thay đổi không chỉ trải nghiệm, mà cả cách ngân hàng phát triển sản phẩm, quản lý quan hệ khách hàng và phân bổ nguồn lực

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==