XU HƯỚNG DỊCH CHUYỂN CHỌN NGÀNH Tính đến thời điểm hiện tại, điểm chuẩn các ngành AI, Khoa học dữ liệu, Thiết kế vi mạch, Bán dẫn đã lên tốp đầu. Ngành Trí tuệ nhân tạo (AI) của Trường ĐH Công nghệ Thông tin (ĐH Quốc gia TPHCM) có điểm chuẩn kỉ lục 100/100, tương đương 30/30 điểm; ĐH Bách khoa Hà Nội giữ mức điểm chuẩn cao nhất 29,54/30 điểm ở mảng Công nghệ thông tin/ Khoa học máy tính. Nhóm ngành Kinh tế tiếp tục vững vàng ở một số trường ĐH tốp đầu. Ví dụ ngành Kinh tế đối ngoại, Trường ĐH Ngoại thương có điểm chuẩn 29,7/30 điểm; ngành Logistics và Quản lí chuỗi cung ứng, ĐH Kinh tế TPHCM, điểm chuẩn 97/100; ngành Kiểm toán, ĐH Kinh tế Quốc dân điểm chuẩn 28,84/30 điểm. Sự điều chỉnh điểm chuẩn mùa tuyển sinh đại học năm 2026 phản ánh rõ nét sự dịch chuyển dòng nguyện vọng của thí sinh, rút lui khỏi khối ngành Khoa học Xã hội thuần túy để đổ dồn về khối Công nghệ, AI, Bán dẫn và Kinh tế số. Sự thay đổi này xuất phát từ tâm lí chọn nghề thực tế trước tác động mạnh mẽ của công nghệ toàn cầu. Nhóm ngành ngoại ngữ vốn thu hút đông đảo thí sinh thời gian qua với điểm chuẩn tiệm cận tuyệt đối ở các tổ hợp A01 (Toán, Lí, Anh), D01 (Toán, Văn, Anh), D14 (Văn, Sử, tiếng Anh) nhưng sự phát triển đột phá của AI dịch thuật và công cụ xử lí ngôn ngữ tự nhiên (NLP) đã làm thay đổi cục diện cuộc chơi. Học sinh nhận ra rằng chỉ giỏi ngoại ngữ là chưa đủ. Sinh viên các ngành Kinh tế, Công nghệ thông tin, Bán dẫn... nếu có thêm ngoại ngữ tốt sẽ có lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn hẳn một cử nhân chỉ học thuần túy về ngôn ngữ. Từ hai tác động trên, xu hướng chọn ngành của học sinh đã chuyển hướng rõ rệt. Thí sinh lựa chọn Truyền thông đa phương tiện, Quan hệ công chúng, Digital Marketing, những ngành có đầu ra rộng hơn ở khối doanh nghiệp tư nhân thay vì nhóm ngành báo chí truyền thống. Một xu hướng khác đang âm thầm diễn ra tại các trường vốn mạnh về kinh doanh/kinh tế như ĐH Kinh tế Quốc dân, Trường ĐH Ngoại thương. Đó là ghi nhận điểm trúng tuyển tăng mạnh ở các ngành Kinh tế số, Công nghệ tài chính, Khoa học dữ liệu trong kinh tế. Người học nhận ra rằng dù làm việc ở bất kì lĩnh vực nào, nếu nắm giữ kiến thức về thuật toán, AI hoặc dữ liệu thì vị thế cạnh tranh sẽ cao hơn nhiều so với việc chỉ sở hữu kĩ năng viết/nói thuần túy. Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển công nghiệp bán dẫn và kinh tế số. Thông tin về chính sách ưu tiên và làn sóng đầu tư FDI vào mảng công nghệ cao tạo niềm tin về “đầu ra” việc làm. So với mặt bằng chung các ngành khoa học xã hội, khối ngành công nghệ thông tin, AI, công nghệ tài chính và phân tích dữ liệu mang lại cơ hội thu nhập khởi điểm và khả năng làm việc từ xa vượt trội hơn. Để đón đầu xu hướng, hàng loạt trường ĐH lớn đồng loạt mở ngành mới thuộc nhóm Công nghệ - AI - Kinh tế số, đồng thời cắt giảm bớt chỉ tiêu xét tuyển bằng điểm thi THPT ở các ngành xã hội truyền thống. Sự xuất hiện của các chương trình học giao thoa như Kinh tế số, Truyền thông số, Đạo đức và Quản trị dữ liệu thu hút chính những học sinh vốn có thiên hướng xã hội nhưng muốn trang bị thêm công nghệ để an toàn hơn trên thị trường lao động. KHOA HỌC XÃ HỘI, BÁO CHÍ HẠ NHIỆT Năm 2025, nhóm ngành khoa học xã hội ghi nhận những mức điểm chuẩn tiệm cận tuyệt đối (28,5 - 29/30 điểm ở tổ hợp Văn, Sử, Địa, C00). Năm 2026, hiện tượng này gần như chấm dứt, chứng kiến sự thoái trào, hạ nhiệt ở khối ngành khoa học xã hội và truyền thông truyền thống. Nhóm ngành Báo chí, Ngôn ngữ, Tâm lí học, Quan hệ công chúng tại các trường top đầu (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), Học viện Báo chí và Tuyên truyền) ghi nhận mức điểm chuẩn giảm từ 1,5 đến gần 7 điểm so với đỉnh cao năm 2025. Điểm chuẩn một số ngành năm trước tiệm cận tuyệt đối (28,5-29 điểm) ở tổ hợp C00 năm nay đã mất thế độc tôn vì các trường không xét tuyển tổ hợp này ở những ngành nóng. Mức điểm cao nhất của Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) dừng lại ở 25,5 điểm, và Học viện Ngoại giao chạm mốc 27,75 điểm. Tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các chuyên ngành Báo chí thuần túy (Báo in, Báo mạng, Ảnh báo chí) có mức giảm từ 3 đến gần 7 điểm (trên thang 40). Ngành Ảnh báo chí rơi từ mốc 35,08 điểm xuống còn 28,10 điểm. Trong khi Báo chí giảm mạnh, các ngành mang tính đa dụng và ứng dụng công nghệ/doanh nghiệp như Truyền thông đa phương tiện và Quan hệ công chúng vẫn duy trì vị trí dẫn đầu bảng điểm chuẩn tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn. Phân tích về nguyên nhân, PGS.TS Đặng Hồng Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn cho hay, năm 2026, nhà trường không tuyển tổ hợp C00 ở 14 trên tổng số 29 ngành đào tạo ĐH. Do đó, tổng điểm chung có giảm nhẹ so với các năm gần đây. Và đặc biệt không có điểm chuẩn đến 29 và hơn 29 điểm. Phổ điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 có sự phân hóa tốt hơn, làm giảm tình trạng “mưa” điểm 9, 10 ở tổ hợp C00 như những năm trước. Việc điểm chuẩn các ngành Báo chí, Đông phương học, Tâm lí học chạm mốc 28,5-29 điểm năm 2025 đã tạo hiệu ứng tâm lí e ngại. Thí sinh có xu hướng chuyển sang các nguyện vọng an toàn hơn đã làm giảm lượng đăng kí vào nhóm ngành này và đẩy điểm chuẩn giảm xuống. NGHIÊM HUÊ 6 n Thứ Ba n Ngày 11/8/2026 KHOA GIÁO Xu hướng theo thị trường lao động Điểm chuẩn năm 2026 tại các cơ sở đào tạo hàng đầu khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn ghi nhận xu hướng "hạ nhiệt". Nhóm ngành STEM (khoa học, kĩ thuật, công nghệ, Toán) lên ngôi nhờ chính sách hỗ trợ tài chính từ Chính phủ. Nghị định 179 của Chính phủ quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đã tạo cú hích đối với việc chuyển hướng lựa chọn ngành học năm 2026. Học sinh đến Ngày hội tuyển sinh khối các ngành Khoa học và Công nghệ lần thứ 2 - 2026 ẢNH: NHƯ Ý CHUYỆN HÔM NAY Sự bùng nổ của công nghệ, những biến động kinh tế toàn cầu và di chứng sau đại dịch đã tạo nên một thế hệ chọn ngành vừa thực tế, vừa khát khao khẳng định giá trị bản thân và cũng vừa hoang mang trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Không khó để nhận ra nhóm ngành Công nghệ thông tin, Khoa học dữ liệu, Trí tuệ nhân tạo (AI) và Truyền thông đa phương tiện tiếp tục giữ vị trí nhóm ngành “hot” (nóng) nhất. Tuy nhiên, điểm khác biệt của Gen Z là khả năng tư duy tích hợp. Gen Z hiểu rằng công nghệ không còn là đặc quyền của dân chuyên công nghệ thông tin, mà đã trở thành công cụ nền tảng cho mọi lĩnh vực. Do đó, xu hướng kết hợp giữa công nghệ với tài chính, công nghệ với giáo dục hay thiết kế trải nghiệm người dùng đang thu hút lượng lớn người trẻ. Họ chọn những ngành có tính ứng dụng cao, đảm bảo khả năng cạnh tranh trước sự đe dọa của tự động hóa và AI. “Theo đuổi đam mê” không còn là một khẩu hiệu “mộng mơ” với Gen Z. Họ nhìn nhận thị trường lao động một cách sòng phẳng và tỉnh táo hơn. Một ngành học lí tưởng trong mắt Gen Z phải đáp ứng hai yếu tố: tiềm năng thu nhập tốt và mức độ linh hoạt cao. Sự bùng nổ của nền kinh tế sáng tạo và xu hướng làm việc từ xa đã thúc đẩy Gen Z hướng về các ngành như Marketing, Thương mại điện tử, Quản trị truyền thông hay Sáng tạo nội dung. Họ mong muốn tự làm chủ thời gian, không bị bó buộc trong không gian văn phòng truyền thống 8 tiếng mỗi ngày, đồng thời có thể tạo ra nhiều nguồn thu nhập ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Một làn sóng ngầm nhưng đầy mạnh mẽ trong tư duy chọn ngành của Gen Z là ưu tiên sức khỏe tinh thần và tính bền vững. Các ngành học liên quan đến tâm lí học, bệnh lí học, quản trị môi trường hay năng lượng xanh đang nhận được sự quan tâm ngày càng lớn. Gen Z là thế hệ chịu ảnh hưởng nhiều bởi áp lực đồng lứa và hội chứng sợ bỏ lỡ. Việc chứng kiến sự “kiệt sức” của các thế hệ trước khiến họ đặt ra ranh giới rõ ràng giữa công việc và cuộc sống. Do đó, họ tìm kiếm những ngành nghề không chỉ đem lại kinh tế mà còn mang lại giá trị nhân văn, đóng góp cho cộng đồng và cho phép họ duy trì sự cân bằng nội tại. Tuy nhiên, sự chủ động và nhạy bén của Gen Z cũng đi kèm những thách thức không nhỏ. Việc chạy theo các ngành “hot” dựa trên hiệu ứng truyền thông hoặc xu hướng nhất thời trên mạng xã hội dễ dẫn đến tình trạng dư thừa nhân lực cục bộ sau 3-4 năm đào tạo. Khi một ngành nghề quá phổ biến, rào cản gia nhập thị trường sẽ gia tăng, kéo theo tỉ lệ cạnh tranh khốc liệt. Bên cạnh đó, việc coi trọng sự tự do đôi khi khiến một bộ phận bạn trẻ thiếu sự kiên trì đối với những ngành nghề đòi hỏi sự tích lũy lâu dài về kiến thức nền tảng như y khoa, giáo dục truyền thống hay nghiên cứu khoa học cơ bản. Xu hướng chọn ngành của Gen Z không đơn thuần là việc chọn một tấm bằng đại học, mà là cách họ lựa chọn một phong cách sống. Sự chuyển dịch từ “chọn ngành ổn định” sang “chọn ngành linh hoạt và có giá trị cá nhân” cho thấy Gen Z đang tái định nghĩa lại khái niệm thành công trong sự nghiệp. Khả năng thích ứng nhanh, tư duy mở và tính thực tế giúp thế hệ này tự tin làm chủ tương lai trong một thế giới liên tục biến động. N. H Gen Z chọn ngành TIẾP THEO TRANG 1 ĐIỂM CHUẨN CÁC NGÀNH:
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==