9 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Hai n Ngày 10/8/2026 SỔ TAY Việc sửa đổi Luật Xuất bản tại kỳ họp Quốc hội lần này không chỉ là câu chuyện hoàn thiện pháp luật. Đằng sau những quy định về tiền kiểm, hậu kiểm, lưu chiểu hay ba vòng kiểm soát là một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để những xuất bản phẩm độc hại, lệch chuẩn văn hóa, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm danh nhân, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước… không thể dễ dàng lọt qua các “cửa kiểm soát” để đến với công chúng. Thực tế thời gian qua cho thấy, đây không phải nguy cơ trên giấy. Một số xuất bản phẩm đã được cấp phép, phát hành rồi mới phát hiện có nội dung vi phạm, gây bức xúc trong xã hội và phải xử lý. Vụ cuốn Chuyện với Thanh là một ví dụ điển hình. Khi một xuất bản phẩm đã đi qua quy trình biên tập, thẩm định, cấp phép và phát hành nhưng sau đó mới bị phát hiện sai phạm, câu hỏi đặt ra không chỉ là ai phải chịu trách nhiệm, mà còn là lỗ hổng nằm ở đâu trong cả hệ thống kiểm soát? Không thể để việc xử lý sai phạm luôn bắt đầu sau khi hậu quả đã xảy ra. Xuất bản là lĩnh vực đặc thù, bởi một cuốn sách không chỉ là hàng hóa. Nó có thể tác động đến nhận thức, tư tưởng, văn hóa và cách nhìn của xã hội về lịch sử, con người, đất nước. Một nội dung lệch chuẩn nếu xuất hiện trên mạng có thể bị trôi nhanh trong dòng thông tin; nhưng khi được đóng dấu bằng một sản phẩm xuất bản chính thức, nó lại có một mức độ “bảo chứng” khác. Vì thế, trách nhiệm của nhà xuất bản, cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước phải tương xứng với sức ảnh hưởng đó. Đặc biệt, cần bịt những khoảng trống để các nội dung xuyên tạc, kích động, phản động; bóp méo lịch sử, chiến tranh cách mạng; xúc phạm danh nhân, anh hùng dân tộc, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; cổ súy những giá trị văn hóa lệch lạc, độc hại… không thể núp dưới danh nghĩa sáng tạo văn học, nghiên cứu hay tự do biểu đạt để đi vào đời sống. Nhưng kiểm soát chặt không đồng nghĩa với kiểm soát tùy tiện. Đây là điểm phải hết sức tỉnh táo khi xây dựng luật. Ranh giới giữa bảo vệ những giá trị cốt lõi với việc can thiệp quá mức vào sáng tạo, nghiên cứu và phản biện cần được xác định bằng tiêu chí rõ ràng, minh bạch, có căn cứ pháp luật. Không thể dùng một khái niệm mơ hồ để biến thành “chiếc lưới” bắt tất cả. Vì vậy, đề xuất xây dựng cơ chế kiểm soát theo mức độ rủi ro là hướng đáng chú ý. Những nội dung liên quan đến lịch sử dân tộc, chủ quyền quốc gia, lãnh tụ, danh nhân, chiến tranh cách mạng, chính trị - tư tưởng… cần một cơ chế thẩm định đặc biệt, với trách nhiệm được xác định rõ ở từng khâu. Ba vòng kiểm soát (Nhà xuất bản - cơ quan chủ quản - cơ quan quản lý nhà nước) chỉ có ý nghĩa khi mỗi vòng thực sự có người chịu trách nhiệm, có tiêu chí cụ thể và có khả năng phát hiện sai phạm, chứ không phải thêm một lớp thủ tục để rồi cuối cùng “cha chung không ai khóc”. Cùng với đó, phải tăng cường hậu kiểm, lưu chiểu điện tử, truy xuất dữ liệu và ứng dụng công nghệ để phát hiện nhanh, xử lý nhanh. Giảm tiền kiểm không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, càng chuyển sang hậu kiểm càng phải có năng lực giám sát mạnh hơn, trách nhiệm rõ hơn và chế tài đủ sức răn đe hơn. Một cuốn sách sai có thể được thu hồi. Nhưng những tư tưởng sai lệch mà nó gieo vào xã hội thì không dễ thu hồi. Bởi vậy, sửa Luật Xuất bản lần này cần hướng tới một nguyên tắc rất rõ: không để xuất bản phẩm độc hại lọt lưới, nhưng cũng không để cơ chế kiểm soát trở thành chiếc lưới trùm lên sáng tạo chính đáng. Muốn vậy, phải bịt những lỗ hổng đã được thực tế chỉ ra, xác định đúng trách nhiệm từng chủ thể và xây dựng một hàng rào pháp lý đủ chặt để bảo vệ văn hóa, lịch sử và những giá trị nền tảng của xã hội. Không thể chờ thêm một Chuyện với Thanh khác mới lại đặt câu hỏi: Vì sao nó đã được xuất bản? KHÁNH AN Bịt lỗ hổng MỖI THÀNH PHỐ, MỘT CÂU CHUYỆN ÁO DÀI Chuyên gia phát triển sản phẩm du lịch Lê Đình Minh cho rằng, nếu áo dài được nhìn như một nguồn lực của kinh tế văn hóa, thì bài toán quan trọng là phải tránh tạo ra cùng một sản phẩm ở mọi điểm đến. Du khách đến Hà Nội, Huế, Hội An hay TPHCM đều thuê áo, trang điểm, chụp ảnh rồi trả áo thì giá trị tạo ra chủ yếu vẫn nằm ở dịch vụ cho thuê. Ông Minh cho rằng, dư địa phát triển lớn hơn nằm ở khả năng mỗi thành phố kể một câu chuyện riêng bằng áo dài, dựa trên lịch sử, không gian, nghề thủ công và thế mạnh sáng tạo của mình. Huế có lợi thế rõ nhất để phát triển một sản phẩm mang chiều sâu lịch sử. Áo ngũ thân có thể trở thành điểm khởi đầu cho hành trình tìm hiểu trang phục, nếp sống và thẩm mỹ của vùng đất cố đô. Một trải nghiệm hoàn chỉnh có thể bắt đầu từ việc khách tìm hiểu cấu trúc chiếc áo, chọn trang phục phù hợp, học cách mặc, nghe câu chuyện về màu sắc, chất liệu, sau đó bước vào những không gian kiến trúc và di sản của Huế. Khi đó, khoản chi của du khách không dừng ở tiền thuê áo mà được phân bổ cho người làm trang phục, hướng dẫn viên, nhiếp ảnh, thủ công, điểm tham quan và các dịch vụ khác. Huế có thể bán một trải nghiệm về phong cách sống và thẩm mỹ cố đô, trong đó áo dài đóng vai trò dẫn đường. Hà Nội lại mạnh ở nguyên liệu khác: phố cổ, kiến trúc Pháp, các làng nghề và lịch sử thị dân. “Nếu biết kết nối, một sản phẩm áo dài của Hà Nội có thể đi theo hành trình từ nơi làm ra chất liệu đến không gian sử dụng nó. Nhiếp ảnh cũng có thể trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong chuỗi này. Một bộ ảnh có câu chuyện, được thực hiện tại những địa điểm gắn với ký ức đô thị, mang giá trị khác với việc đơn thuần thuê áo và tìm một góc phố đẹp để chụp hình”, ông Minh phân tích. Hội An có lợi thế đặc biệt về tốc độ và kỹ năng may đo phục vụ khách du lịch. Vấn đề ở đây là phải nâng trải nghiệm từ may nhanh một bộ quần áo thành mang về một sản phẩm văn hóa Việt Nam. Phố cổ trở thành phông nền tự nhiên cho câu chuyện ấy. Giá trị gia tăng nằm ở chỗ chiếc áo mang về không còn là một món hàng lưu niệm thông thường mà gắn với ký ức về người đã may nó và nơi nó được tạo ra. TPHCM có thể chọn một hướng khác: biến áo dài thành một phần của kinh tế sáng tạo. Nhà thiết kế Sỹ Hoàng cho rằng, thành phố đã có hoạt động lễ hội áo dài, mạng lưới nhà thiết kế, thời trang, truyền thông và thị trường tiêu dùng lớn. Thế mạnh này phù hợp với các bộ sưu tập đương đại, trình diễn, triển lãm, thiết kế ứng dụng, sản phẩm hợp tác giữa nhà thiết kế và thương hiệu, cũng như những sự kiện kết nối áo dài với âm nhạc, nghệ thuật và công nghệ. “Sự khác biệt giữa các địa phương chính là một phần của giá trị. Bốn thành phố không cần cạnh tranh bằng bốn lễ hội giống nhau hay những tuyến phố cùng cung cấp dịch vụ thuê áo chụp ảnh”, chuyên gia Lê Đình Minh khẳng định. HẠ ĐAN Sự tận tâm của ông đã tạo nên một thế hệ kế cận yêu tiếng chiêng, dù số lượng thanh niên thực sự kiên trì theo học vẫn còn khá ít. Nhưng những em đã có tinh thần học tập, các em luôn mang theo nhịp chiêng trong tâm thức như một phần máu thịt của mình. Em Y Khuyên (15 tuổi) cho biết, giữa nhịp sống hiện đại, khi âm nhạc điện tử dần chiếm lĩnh thị hiếu của giới trẻ, nghệ nhân Y Nay vẫn lặng lẽ giữ lửa âm thanh truyền thống. Ông đã truyền đam mê đến nhiều bạn yêu thích thanh âm thiêng liêng ấy. Nhiều bạn trong buôn biết đánh chiêng và hiểu hơn về giá trị văn hóa dân tộc. Giữa xã hội công nghệ và hiện đại như ngày nay, theo em Y Khuyên thì khi cồng chiêng hay nhạc cụ truyền thống được khoác lên một "chiếc áo mới" mà vẫn giữ được giá trị truyền thống, nó sẽ dễ chạm đến người trẻ hơn. Đến tận bây giờ, nghệ nhân Y Nay không nhớ mình đã dạy bao nhiêu học trò. Điều ông vui nhất là nhiều em sau khi học thành thạo có thể tham gia biểu diễn, làm việc tại các khu, điểm du lịch trong và ngoài tỉnh để có thêm thu nhập. Mỗi khi có các lớp tập huấn, bồi dưỡng do ngành văn hóa tổ chức, ông đều tích cực vận động thanh niên tham gia. “Muốn bảo tồn văn hóa, thì phải có người kế tục. Tôi luôn động viên các cháu học đánh chiêng, học chế tác nhạc cụ. Chỉ tiếc là điều kiện kinh phí còn hạn chế, nên việc duy trì các lớp học chưa được thường xuyên như mong muốn”, ông Y Nay tâm sự. Buôn Tùng Tăh chủ yếu là đồng bào dân tộc Gia Rai sinh sống. Hiện nay, buôn có hai bộ chiêng gồm: một dàn chiêng cổ và một dàn chiêng cải tiến được nhà nước hỗ trợ. Nghệ nhân Y Nay còn là người chơi và chế tác nhiều loại nhạc cụ truyền thống. Trong ký ức của ông, nhiều lễ hội trong buôn không thể vắng âm thanh của các nhạc cụ. Ông cho biết, thuở nhỏ, mỗi lần theo cha lên rẫy hay vào rừng lấy tre, nứa, ông đều quan sát cách cha chọn vật liệu, đẽo gọt, uốn nắn từng chi tiết. Mỗi lần trong buôn có lễ hội, ông lại chăm chú nhìn các cụ già chơi nhạc cụ. Sau đó nghiên cứu từng đặc điểm, âm thanh, cấu tạo của mỗi loại nhạc cụ. Bây giờ, mỗi ngày ông vẫn cần mẫn chế tác nhạc cụ như đàn T’rưng, đàn Goong, đàn Pơng, K’ni, Đinh t’linh hay Đinh đoong…Theo ông, chế tác nhạc cụ không có lớp học, không có sách hướng dẫn, mọi bài học đều được truyền tải bằng đôi bàn tay tỉ mỉ. Chỉ cần sai một chút là âm thanh không còn hay nữa. Ở buôn vùng sâu của tỉnh Đắk Lắk, hành trình tiếp nối di sản ấy vẫn đang âm thầm, bền bỉ như chính nhịp sống của đại ngàn. Mỗi ngày, ông vẫn cần mẫn chỉnh chiêng, chế tác nhạc cụ, truyền dạy cho học trò mới và tiếp tục gìn giữ vốn quý mà cha ông để lại. "Đó không chỉ là âm thanh nhạc cụ truyền thống, mà còn là tiếng gọi cội nguồn, bản sắc văn hóa của dân tộc", nghệ nhân Y Nay tâm sự. N.T Ông Y Nay có nhiều đóng góp quan trọng cho văn hóa dân tộc, ông trao truyền tri thức đến thế hệ trẻ trên nhiều lĩnh vực như truyền dạy cồng chiêng, chế tác nhạc cụ dân tộc. Ông Y Nay Ksơr được Nhà nước ghi nhận đóng góp, phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2022. Khách quốc tế thích thú thử áo dài truyền thống của Việt Nam Tỉnh Đắk Lắk tổ chức nhiều lớp tập huấn dành cho các nghệ nhân
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==