Báo Tiền Phong số 219

9 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Sáu n Ngày 7/8/2026 CHUYỆN HÔM NAY Vì thế, xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh, tin cậy và nhân văn không còn là câu chuyện riêng của ngành công nghệ hay cơ quan quản lý, mà là một yêu cầu của đời sống xã hội hiện đại. Ngày An ninh mạng Việt Nam (6/8), với thông điệp “Vì một không gian mạng nhân văn cho mỗi người”, vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài việc phòng, chống tội phạm công nghệ cao hay bảo vệ các hệ thống thông tin. Bởi suy cho cùng, bảo vệ không gian mạng là để bảo vệ con người. Một không gian mạng an toàn trước hết phải là nơi người dân không phải sống trong nỗi lo thường trực về lừa đảo, đánh cắp dữ liệu, chiếm đoạt tài sản hay bị xâm phạm đời tư. Một cú nhấp chuột không thể trở thành cái giá cho cả gia tài; một thông tin cá nhân không thể dễ dàng bị mua bán; một tài khoản không thể bị đánh cắp chỉ vì người dùng thiếu một kỹ năng mà đáng lẽ hệ thống phải giúp họ phòng vệ. Nhưng an toàn thôi chưa đủ. Không gian mạng còn phải lành mạnh. Lành mạnh không có nghĩa là một không gian không có tranh luận, bất đồng hay những quan điểm trái chiều. Ngược lại, một xã hội dân chủ và hiện đại cần một không gian để con người được nói, được phản biện và được tranh luận. Điều cần ngăn chặn là sự biến dạng của tự do thành xúc phạm, bôi nhọ, vu khống, kích động thù hằn, tung tin giả và thao túng đám đông. Tự do trên không gian mạng không thể đứng ngoài trách nhiệm. Một lời nói có thể chỉ mất vài giây để viết ra nhưng có thể làm tổn thương một con người trong nhiều năm. Một thông tin sai có thể được chia sẻ hàng nghìn lần trước khi sự thật kịp lên tiếng. Vì thế, văn hóa ứng xử trên mạng phải được xem như một phần của văn hóa xã hội có chuẩn mực. Một không gian mạng tin cậy cũng đòi hỏi trách nhiệm lớn hơn từ các nền tảng. Không thể chỉ đo thành công bằng số người dùng, lượt xem hay thời gian giữ chân người dùng. Đằng sau những con số ấy là con người, là tâm lý, danh dự, tài sản và đôi khi cả sự an toàn của họ. Thuật toán có thể biết điều gì khiến người ta dừng lại lâu hơn trước màn hình. Nhưng xã hội cần đặt thêm một câu hỏi: Điều đó có thực sự tốt cho con người hay không? Đây chính là ranh giới giữa một nền tảng chỉ biết tối đa hóa sự chú ý và một nền tảng có trách nhiệm với cộng đồng. Muốn không gian mạng an toàn, nhân văn, nhà nước phải hoàn thiện pháp luật, xử lý nghiêm hành vi vi phạm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân. Doanh nghiệp công nghệ phải đặt an toàn người dùng vào trung tâm của thiết kế và vận hành. Báo chí phải dẫn dắt, định hướng thông tin chính xác, có trách nhiệm. Người sáng tạo nội dung phải hiểu rằng sức ảnh hưởng càng lớn thì trách nhiệm càng cao. Và mỗi người dùng cũng phải tự trở thành một “bộ lọc” có trách nhiệm: biết kiểm chứng trước khi chia sẻ, biết tôn trọng người khác, biết dừng lại trước một thông tin gây kích động và biết rằng phía bên kia màn hình cũng là một con người với quyền được tôn trọng. An ninh mạng, đến tận cùng, không chỉ là bảo vệ máy chủ, dữ liệu hay hệ thống. Đó là bảo vệ sự bình yên của con người trong một thế giới ngày càng sống nhiều hơn trên môi trường số. Và thước đo cuối cùng của một không gian mạng văn minh có lẽ không phải là nó có bao nhiêu người dùng, bao nhiêu lượt truy cập hay bao nhiêu tỷ đồng doanh thu. Mà là, sau tất cả những gì diễn ra trên đó, con người có cảm thấy mình được an toàn, được tôn trọng hay không. N.T Để mạng xã hội nhân văn TIẾP THEO TRANG 1 câu lạc bộ, cùng lịch hoạt động và cùng nội dung sinh hoạt, thiết chế văn hóa sẽ khó tạo được sự gắn bó với người dân. Điều cần nhân rộng chính là phương pháp phát hiện "chất liệu văn hóa" của từng địa phương. Với Vạn Điểm, đó là nghề mộc; với Bát Tràng là nghề gốm; Chàng Sơn là nghề làm quạt; Phú Vinh là mây tre đan; Quảng Phú Cầu là nghề làm hương; còn những khu phố cổ có thể khai thác ký ức đô thị, văn hóa phố nghề hay đời sống cư dân lâu đời. Nếu mỗi địa phương đều có thể kể câu chuyện của chính mình, hệ thống thiết chế văn hóa sẽ trở thành một mạng lưới đa dạng thay vì những phiên bản na ná nhau. Chính sự khác biệt ấy mới tạo nên sức hấp dẫn, khơi dậy niềm tự hào của người dân và giúp văn hóa cơ sở phát triển bền vững”. Bà Nhạn dẫn ví dụ về mô hình Machizukuri ở Nhật Bản, từ cuối những năm 1960, Nhật Bản phát triển triết lý Machizukuri (xây dựng cộng đồng), trong đó người dân cùng thiết kế không gian công cộng, bảo tồn nghề truyền thống, lễ hội và ký ức địa phương. Các trung tâm cộng đồng không hoạt động theo một mẫu thống nhất mà phản ánh đặc trưng của từng khu phố, từng làng nghề. Nhiều nghiên cứu xem Machizukuri là một trong những mô hình thành công nhất về phát triển cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa và sự tham gia của cư dân. PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, văn hóa chỉ có thể phát triển bền vững khi cộng đồng trở thành chủ thể sáng tạo, chủ thể gìn giữ và chủ thể thụ hưởng. Điều đó đồng nghĩa một thiết chế văn hóa sẽ khó tạo sức sống nếu nội dung được thiết kế từ bên ngoài hoặc áp dụng đồng loạt cho mọi địa phương. HẠ ĐAN đây rất rậm rạp. Chị Trâm đi dưới tán cây, và nếu có tiếng trực thăng gầm rú trên bầu trời, mọi người sẽ biến mất ngay lập tức vào bụi rậm hoặc hầm trú ẩn”. Cứ khoảng 6 giờ chiều, sau khi ăn cơm xong, ông Đe lại nhận lệnh từ trưởng thôn Phạm Văn Ba để dắt bác sĩ đi đường cẩn thận, nhất là khi tiến vào vùng giáp ranh với xã Phổ Cường. Có lần bác sĩ Đặng Thùy Trâm hỏi cậu giao liên: “Chả lẽ cả gia đình sẽ ở mãi trong rừng núi, không xuống đồng bằng hay sao?”. Cậu giao liên đáp: “Gia đình em từng sống ở ngay tại Cây Muối. Nhưng do bom đạn ác liệt, mẹ thì bị mù, vì vậy bà con dân làng đều chạy vô trong rừng để tránh máy bay”. Nhiều năm sau, ông Đe vẫn không quên hình ảnh bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Khi nhận được tin người anh trai là Phạm Văn Đói qua đời, lúc đó đang công tác tại một đơn vị bộ đội đóng quân tại Ba Tơ, ông Đe trở về quê thắp hương cho anh. Ông bùi ngùi rơi nước mắt khi nghe tin bác sĩ Đặng Thùy Trâm cũng vừa mới hy sinh (ngày 22/6/1970). Ông Đe vội vã đi cùng với ông Phạm Văn Ba, trưởng thôn Nước Đang tìm lên Trạm xá Bác Mười. Cả hai người quỳ xuống ngôi mộ chôn tạm người nữ bác sĩ anh hùng, lấp thêm đất đá, chèn thêm vài gốc cây vì sợ ngôi mộ bị bạt đi, mất dấu. Nhớ lại giây phút ấy, ông Đe nói: “Chị Trâm là người đảng viên sống có lý tưởng, hết lòng vì Tổ quốc, chị mãi mãi sống trong lòng của người đồng bào H’rê ở vùng rừng núi này”. HÓA THÂN VÀO KÝ ỨC Cách đây một năm, tỉnh Quảng Ngãi và gia đình phối hợp tổ chức kỷ niệm 55 năm ngày Anh hùng, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm hy sinh (22/6/1970 - 22/6/2025). Cũng vào dịp kỷ niệm đặc biệt ấy, gia đình đã giới thiệu cuốn sách tập hợp những bức thư viết từ chiến trường và những trang nhật ký từ thời sinh viên ở Hà Nội. Đọc những dòng tự sự ấy, người ta càng cảm nhận sâu sắc trái tim nhân hậu, lòng trắc ẩn và lý tưởng sống cao đẹp của chị: sống là phải chiến đấu và cống hiến hết mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, với hình mẫu lý tưởng là Pavel Korchagin trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy. Trong bức thư đề ngày 6/4/1967 gửi gia đình từ Liên khu V, chị viết: “Ba má và gia đình rất đỗi thương yêu, đến hôm nay con đã chính thức về nhận công tác tại Bệnh xá Đức Phổ, thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một huyện đã giải phóng gần hết, tình hình kinh tế, chính trị tốt nhất tỉnh Quảng Ngãi và gần như tốt nhất của Khu V”. Những dòng thư ấy là sự động viên để gia đình yên lòng, nhưng thực tế chiến trường Đức Phổ chứa đựng vô vàn hiểm nguy. Bà Võ Thị Thu Thủy từng là học trò của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, kể lại rằng những vùng như Phổ Cường, Phổ Minh, Phổ Khánh ban ngày địch kiểm soát, nhưng đêm đến cách mạng làm chủ. Người dân ở nhiều nơi bị ép đưa vào ấp chiến lược, sáng hôm sau mới được ra ngoài làm ruộng. Tình hình thực tế lúc bấy giờ khốc liệt và căng thẳng hơn rất nhiều so với những dòng mô tả ngắn gọn trong nhật ký. Trước khi kết thúc loạt bài này, tôi gửi cho cựu phóng viên chiến trường Mỹ Ronald Heaberle chùm ảnh về lòng hồ Liệt Sơn với câu hỏi “ông còn nhớ gì ở vùng đất này không, chắc ông đã chụp rất nhiều?”. Tôi không chờ Ronald trả lời để đưa vào bài viết. Vì hơn 30 năm qua, người cựu binh Mỹ 86 tuổi này vẫn trở về Việt Nam để góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh. Ông là người chỉ cầm máy ảnh chứ không cầm súng, tuy nhiên, Ronald vẫn nhắc đi nhắc lại câu: “Tất cả chúng tôi đều có lỗi!”. L.V.C nhà văn hóa Theo Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, việc đổi mới phương thức tổ chức hoạt động tại nhà văn hóa là một trong những giải pháp quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2026 có 95% thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở hoạt động hiệu quả. Đến nay 126/126 xã, phường trên địa bàn thành phố đã đăng ký triển khai mô hình “Mỗi xã, phường có một mô hình hay, cách làm hiệu quả phát huy hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở”. Trên cơ sở điều kiện thực tế, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội xác định xây dựng ba mô hình đại diện cho ba nhóm, gồm: nhà văn hóa có đầy đủ nhà văn hóa và khu thể thao tại các xã trung tâm; nhà văn hóa có đầy đủ cơ sở vật chất tại các phường ven đô; và nhà văn hóa tại các phường trung tâm có diện tích cơ bản đáp ứng yêu cầu nhưng không có khuôn viên, các hoạt động ngoài trời được tổ chức tại không gian công cộng phù hợp. Hành trình tìm lại dấu vết xưa hôm nay, vì thế, không chỉ là tìm về nơi nữ bác sĩ từng sống và chiến đấu, mà còn là để lưu giữ những ký ức cuối cùng của một vùng căn cứ địa trước khi nó khép lại một chương lịch sử. Chị Phạm Thị Mẫn khoác chiếc áo blu trắng khi thắp hương bên bia tưởng niệm, chị tâm sự: “Lên đây em càng hiểu, những người đảng viên sống có lý tưởng, họ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc”. Câu lạc bộ võ thuật tại Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn Vạn Điểm Cựu phóng viên chiến trường Mỹ Ronald Heaberle, người được Chính phủ Việt Nam tặng Kỷ niệm chương vì hòa bình. Ông gửi tặng tấm ảnh năm 27 tuổi, có mặt tại chiến trường Đức Phổ và chứng kiến nhiều sự kiện ở xã Ba Trang ẢNH: TƯ LIỆU

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==