15 n Thứ Tư n Ngày 22/7/2026 NGƯỜI LÍNH MẬT TẬP Ở ĐIỂM CAO MĂNG MÔ Hàng chục năm qua, mỗi khi trái gió trở trời, mảnh đạn còn nằm trong đầu Trung tướng Nguyễn Đức Sơn (nguyên Bí thư Đảng uỷ, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng tham mưu - cơ quan Bộ Quốc phòng) lại khiến ông nhói đau. Cơn đau ấy không kéo ông trở về với những vết thương của riêng mình, mà đưa ký ức trở lại điểm cao Măng Mô, nơi người đồng đội thân thiết Nguyễn Văn Vịnh đã mãi mãi nằm lại… Cuối năm 1969, sau khi lực lượng Vàng Pao cùng quân đội Hoàng gia Thái Lan, dưới sự chi viện của Mỹ, lấn chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Trung đoàn 165 được giao tham gia Chiến dịch 139 phản công giành lại địa bàn chiến lược. Sau khi giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, đơn vị tiếp tục nhận nhiệm vụ đánh các điểm cao vòng ngoài, trong đó có Măng Mô. Sau khi trinh sát, chỉ huy đại đội của ông Sơn quyết định lựa chọn phương án “mật tập”, bí mật tiếp cận mục tiêu theo lối đánh đặc công. Người trực tiếp đi trinh sát là trung đội trưởng, nhưng trước giờ nổ súng lại được giao làm nhiệm vụ phía sau. Khi ấy, ông Sơn là trung đội phó, được giao chỉ huy một mũi tiến công dù chưa trực tiếp nắm địa hình. Chính vì vậy, mũi của ông phải tiếp cận qua một sườn dốc cao, việc cơ động gặp rất nhiều khó khăn. 23 giờ 45 phút đêm 19/12/1969, khi các mũi tiến công còn đang bí mật tiếp cận mục tiêu, một hướng bị địch phát hiện. Báo động vang lên trên toàn cao điểm. Kế hoạch buộc phải thay đổi, các đơn vị đồng loạt nổ súng sớm hơn dự kiến. Mũi tiến công của ông Sơn nhanh chóng đánh chiếm được hai lô cốt đầu cầu. Xạ thủ B40 Nguyễn Văn Vịnh (cùng tuổi và là đồng hương của Trung tướng Nguyễn Đức Sơn) bắn trúng miệng hầm địch, tạo điều kiện để đơn vị tràn lên. Nhưng các hướng khác không phát triển được, quân địch lập tức dồn hỏa lực về vị trí mũi tiến công của ông. Do xác định đánh mật tập nên lượng đạn mang theo của mỗi chiến sĩ không nhiều, trong khi quân địch đông hơn nhiều so với dự tính ban đầu. Sau một thời gian cầm cự, đạn gần cạn, thương vong bắt đầu xuất hiện. Ông Sơn buộc phải ra lệnh cho anh em rút lui, còn mình cùng xạ thủ Nguyễn Văn Vịnh ở lại chặn địch. Đến khi hai quả đạn B40 cuối cùng rời nòng, xạ thủ Nguyễn Văn Vịnh bị đạn bắn trúng. “Vịnh bị thương rất nặng. Tôi không thể để anh ấy nằm lại mà đi xuống một mình được. Tôi vừa kéo Vịnh, vừa đánh trả địch để rút lui. Đoạn đường từ trên xuống chân đồi chỉ hơn 100 mét nhưng phải mất hàng giờ đồng hồ. Vịnh mê man, thỉnh thoảng lại hét lên trong vô thức. Mỗi lần như vậy, địch lại tập trung ném lựu đạn, bắn xối xả về phía chúng tôi”, ông Sơn nhớ lại. Khi gặp được lực lượng đón phía dưới, ông Sơn gục xuống vì mất quá nhiều máu. Còn đồng đội Nguyễn Văn Vịnh đã không qua khỏi. QUA SÔNG THẠCH HÃN Ba tuần sau ngày bị thương ở Măng Mô, Nguyễn Đức Sơn rời bệnh xá sư đoàn để trở lại đơn vị. Sáu mảnh đạn găm trên người, trong đó có một mảnh nằm lại trong đầu, không ngăn người lính trẻ tiếp tục hành quân cùng đồng đội. Ông kịp trở về đơn vị để tham gia chiến đấu ở giai đoạn cuối của Chiến dịch 139. Sau đó, ông tham gia Chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Chiến dịch Z) với cương vị Chính trị viên Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 165. Ba trận đánh đầu tiên, đơn vị đều hoàn thành nhiệm vụ. Đến trận cuối trên đỉnh Ta Can, chiến tranh một lần nữa để lại những mất mát không thể bù đắp, khi nhiều người lính không trở về. Trong đợt truy kích địch giữa mưa bom, đội hình 16 cán bộ, chiến sĩ của Trung đội 6 thuộc Đại đội 6 đã hy sinh. Bản thân ông Sơn cũng thoát chết trong gang tấc khi một quả bom nổ sát hầm chiến đấu. Hai đồng đội ở ngay bên cạnh là Trần Văn Cơ và Đỗ Văn Bạo hy sinh, còn ông được phát hiện trong tình trạng thoi thóp rồi may mắn thoát chết. Khi đang chiến đấu ở Lào, ông được điều gấp về mặt trận Quảng Trị để bổ sung lực lượng, bởi chiến trường nơi đây đang diễn ra vô cùng khốc liệt. Đầu tháng 9/1972, Tiểu đoàn 5 của ông Sơn được bổ sung 52 tân binh. Với cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn 5, ông được giao chỉ huy đưa toàn bộ lực lượng vượt sông Thạch Hãn để vào vị trí chiến đấu. Đúng 1 giờ 10 phút ngày 4/9/1972, đoàn gồm 68 người, trong đó có 52 tân binh, bắt đầu bơi qua Thạch Hãn trong màn đêm. Đến rạng sáng, toàn bộ quân số đã an toàn tới vị trí chốt giữ của Tiểu đoàn 5 ở khu vực đông nam Thành cổ Quảng Trị. Trung tướng Nguyễn Đức Sơn kể, kết thúc tuần lễ cuối cùng ở Thành cổ, trước khi chia tay, mọi người hẹn với nhau, hòa bình rồi, hằng năm, nếu còn khỏe, cố gắng gặp nhau ở trung đoàn. Lời hẹn ước đó tưởng đơn giản, nhưng thực tế chẳng dễ dàng. Bởi chiến tranh ở biên giới Tây Nam, rồi cuộc chiến đấu ở biên giới phía Bắc cứ liên tiếp kéo dài. Mãi tới sau này, khi đều đã về hưu, ông Sơn và một số đồng đội còn khỏe mới thường xuyên giữ liên lạc. Mỗi lần gặp mặt, những người lính năm xưa lại nhắc lại ký ức về đêm vượt sông Thạch Hãn, nhắc về những đồng đội đã ngã xuống trong những ngày cùng nhau đi qua lửa đạn. BÍCH TRANG - THỤY DU Sinh ra ở Phú Xuyên (Hà Nội), tháng 3/1967, chưa được 18 tuổi, Nguyễn Đức Sơn tình nguyện nhập ngũ, trở thành chiến sĩ Trung đoàn 165, Sư đoàn 312. Ông lần lượt đi qua chiến trường Lào, Thành cổ Quảng Trị rồi cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc. Trong câu chuyện của người lính năm xưa, điều được ông nhắc nhiều nhất không phải những trận đánh, mà là các đồng đội đã không thể trở về. Đoàn cựu chiến binh Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312 - những người trực tiếp chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 về thăm đơn vị cũ. Trung tướng Nguyễn Đức Sơn đứng hàng đầu, thứ năm từ phải sang Nhiều năm sau ngày đất nước hòa bình, được gia đình và đồng đội động viên, Trung tướng Nguyễn Đức Sơn hoàn thành cuốn sách “Qua sông Thạch Hãn”, ghi lại những câu chuyện, kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời quân ngũ. Nhiều người gợi ý đổi tên thành “Vượt sông Thạch Hãn” để tạo cảm giác mạnh mẽ hơn, nhưng ông không đồng ý. Theo ông, “qua sông” là cách gọi giản dị, gần với ký ức của người lính. Chiến tranh trong ký ức ấy không chỉ có những trận đánh ác liệt mà còn có tình đồng đội, có những mùa xuân nơi chiến trường và những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ sục sôi ý chí. Ký ức của vị tướng về đồng đội trong đạn lửa “Sau mỗi chiến dịch, chúng tôi lại về thăm nhà ít ngày. Lần nào tạm biệt quê hương để quay lại chiến trường, tất cả đều phải chuẩn bị tinh thần đối mặt với mất mát, hy sinh”. Trung tướng NGUYỄN ĐỨC SƠN, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng tham mưu - cơ quan Bộ Quốc phòng Trung trướng Nguyễn Đức Sơn (bên trái) cùng đồng đội thăm lại chiến trường xưa Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào) Ngày 5/7/2026, tôi cùng đoàn sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam lên đường sang Lào tham gia Chương trình giao lưu sĩ quan trẻ giữa QĐND Việt Nam và QĐND Lào. Chuyến công tác kéo dài mười ngày, điều đọng lại không chỉ là những cuộc gặp gỡ, mà còn là cảm giác dù ở xa Tổ quốc, lòng mình vẫn luôn hướng về đồng đội đang miệt mài với những nhiệm vụ ở quê nhà. Từ Sư đoàn Bộ binh 1, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Viêng Chăn đến Học viện Quốc phòng Kaysone Phomvihane, ở đâu chúng tôi cũng nhận được sự đón tiếp chân tình. Những cuộc trao đổi kinh nghiệm, các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao giúp chúng tôi thêm hiểu nhau và càng trân trọng mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai Quân đội và Nhân dân hai nước. Tôi càng hiểu rằng mỗi lời nói, mỗi việc làm của người sĩ quan trẻ hôm nay đều góp phần vun đắp tình cảm ấy. Ở nước bạn, điện thoại tôi gần như ngày nào cũng có tin nhắn từ cơ quan. Đồng đội báo tiến độ chuẩn bị chương trình nghệ thuật “Tiếp nối huyền thoại - Khát vọng non sông” nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Tôi hiểu phía sau những dòng tin ngắn gọn ấy là biết bao ngày làm việc không kể thời gian để chuẩn bị một hoạt động tri ân, góp phần lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đồng hành cùng Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Chiều 14/7, đoàn trở về Hà Nội cũng là lúc chương trình diễn ra tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên. Dù không thể có mặt cùng anh em, qua những hình ảnh gửi về, tôi vẫn cảm nhận được sự tận tâm của đồng đội và niềm xúc động của các gia đình chính sách. Đặc biệt, khoảnh khắc những bức ảnh phục dựng chân dung liệt sĩ được trao tận tay thân nhân khiến tôi lặng người. Đó có lẽ là phần thưởng ý nghĩa nhất cho những ngày âm thầm chuẩn bị. Mười ngày ở Lào khép lại với tôi bằng một suy nghĩ giản dị: người làm công tác đối ngoại, người tổ chức hoạt động tri ân, người ngày đêm tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ… mỗi người một nhiệm vụ, nhưng đều hướng về mục tiêu chung là phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân. Chính những người đồng đội lặng thầm cống hiến mỗi ngày luôn nhắc tôi phải tiếp tục rèn luyện và nỗ lực hơn trên chặng đường phía trước. Trích nhật ký Trung tá Lý Ngọc Hậu - Trợ lý Ban Thanh niên Quân đội, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam NHẬT KÝ QUÂN NGŨ
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==