TIỀN PHONG SỐ ĐẶC BIỆT 2/9/2026

62 2 9 ĐẠO DIỄN, NSƯT BÙI TRUNG HẢI: Đơn giản thủ tục, mở cửa đón đoàn phim quốc tế Việc tạo điều kiện cho các nhà làm phim nước ngoài quay phim tại Việt Nam có rất nhiều mặt tích cực. Đây là nguồn thu lớn cho ngân sách, bởi điện ảnh là ngành nghệ thuật cần chi phí sản xuất rất lớn. Kinh phí nhiều bộ phim quốc tế có thể lên tới vài chục, thậm chí hàng trăm triệu USD và phần lớn kinh phí sẽ được chi cho khâu sản xuất tại nước sở tại. Việc quay phim quốc tế tại Việt Nam còn giúp phong cảnh, con người Việt Nam xuất hiện trên màn ảnh lớn, qua đó có tác động thu hút du lịch, đầu tư. Đặc biệt, sự cộng tác với các nhà làm phim, nhà sản xuất nước ngoài sẽ giúp các nhà làm phim Việt Nam nâng cao tay nghề, cập nhật thẩm mỹ, quan niệm làm phim, đồng thời làm quen với những quy trình kỹ thuật và sáng tạo hiện đại trên thế giới. Tuy nhiên, nền điện ảnh Việt cần chủ động, mạnh mẽ hơn trong việc tạo điều kiện cho các nhà làm phim nước ngoài quay tại Việt Nam. Nên có những chính sách cụ thể như giảm, hoàn thuế, đơn giản hóa thủ tục giấy tờ và giảm bớt các khâu thẩm định, kiểm duyệt. Nếu không tạo điều kiện thuận lợi, các đoàn phim nước ngoài có thể chọn những quốc gia khác có phong cảnh tương tự như Thái Lan, Philippines, như họ từng làm trong quá khứ. Về thủ tục, các loại giấy tờ để cho phép đoàn phim nước ngoài quay tại Việt Nam còn khá rườm rà, phức tạp. Sau khi trình duyệt, kiểm duyệt và được phép quay, trên thực tế đoàn phim vẫn phải xin phép ở nhiều cấp khác nhau cho từng cảnh quay cụ thể. Quy trình này khiến các nhà làm phim nước ngoài bối rối, ngần ngại vì ở nước họ không như vậy. Theo các văn nghệ sĩ, nhà làm phim, nhạc sĩ, chuyên gia, muốn vươn ra thế giới, Việt Nam cần vừa mở cửa đón nguồn lực quốc tế, vừa củng cố nội lực, nâng chất lượng sản phẩm văn hóa tạo đủ hành lang pháp lý. Quý tử vượt giàu của Nguyễn Quang Dũng quy tụ Thu Trang, Tiến Luật PHẢI ĐỦ MẠNH ĐỂ VƯƠN RA THẾ GIỚI “Hợp tác công - tư không chỉ nâng cao năng lực cho giới tư nhân làm công nghiệp văn hóa mà còn nâng cao năng lực cho các cơ quan, đơn vị trong khối nhà nước. Họ cần có cơ chế phối hợp với tư nhân thông thoáng hơn, đồng thời định vị lại vai trò phát triển kinh tế của các cơ quan văn hóa, tổ chức, nhà xuất bản hay các tập đoàn văn hóa nhà nước một cách tối ưu hơn”. TS LƯ THỊ THANH LÊ n GIA LINH - NGỌC ÁNH (ghi) PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA: NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU VƯỢNG: Nội lực phải vững chắc Các sản phẩm đang “hot” trên TikTok thực chất chưa được đầu tư một cách kỹ lưỡng. Đa số sản phẩm âm nhạc Việt Nam hiện nay mang tính ăn xổi, làm nhanh để đạt mục tiêu truyền thông mà chưa thực sự tập trung vào chất lượng. Muốn tiếp cận thị trường quốc tế, trước hết chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn nhất định. Bên cạnh đó, cách truyền thông để đưa sản phẩm đến với thế giới là chuyện phải bàn nhiều bởi một sản phẩm phải “chạm” đến những người có ảnh hưởng, những trang hoặc nền tảng âm nhạc nổi tiếng trên thế giới, chúng ta mới có cơ hội ra biển lớn. Có nhiều cách để đưa một sản phẩm ra thế giới, nhưng để duy trì sức ảnh hưởng và tạo được tiếng vang nhất định, Việt Nam vẫn chưa có nhiều sản phẩm đủ chất lượng. Việt Nam mới bắt đầu hình thành nền công nghiệp văn hóa, trong đó có công nghiệp âm nhạc. Trước đây, chúng ta gần như tự làm tất cả, và bây giờ đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp âm nhạc, nên không thể đòi hỏi phải vươn lên ngay lập tức. Chất lượng sản phẩm chỉ là một phần. Khi có một công ty đứng phía sau, đội ngũ truyền thông, chiến lược và kế hoạch có thể xây dựng được các mối quan hệ quốc tế, từ đó đưa bài hát lên những trang, kênh âm nhạc trên thế giới. Khi đó mới có cơ hội viral ở thị trường quốc tế. Muốn phát triển bền vững, đi xa và đặc biệt là vươn ra quốc tế, nội lực trước hết phải vững. Nhìn vào câu chuyện của Hàn Quốc, chúng ta nhận ra họ xây dựng được một mặt bằng chung cao và ca sĩ nào cũng chỉn chu trong sản phẩm. Vấn đề của nền âm nhạc Việt Nam là khi nhìn vào, người ta vẫn thấy chưa chuyên nghiệp. Khi chưa chuyên nghiệp, khi “bộ mặt” chưa tốt, rất khó để vươn ra bên ngoài. TS LƯ THỊ THANH LÊ (TRƯỜNG KHOA HỌC LIÊN NGÀNH VÀ NGHỆ THUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI): Cần hành lang pháp lý để tư nhân và Nhà nước cùng làm văn hóa Trước đây, việc quản lý văn hóa phổ biến hơn việc phát triển thị trường văn hóa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra là làm thế nào tạo động lực để các sản phẩm, dịch vụ văn hóa tạo ra thu nhập về kinh tế. Cách vận hành không thể chỉ theo hướng quản lý văn hóa mà phải nâng cao năng lực phát triển các hoạt động kinh tế liên quan đến văn hóa. Chúng ta đã có cơ chế, chính sách, quan trọng phải chuyển hóa những chính sách đó thành tác động rõ rệt, tạo sự thuận lợi và tối ưu để phát triển công nghiệp văn hóa. Chính sách ở thượng tầng đã mở đường, nhưng vẫn cần một quá trình để đồng bộ hóa chủ trương trong các quy định, chính sách cụ thể ở phía dưới cũng như tại địa phương. Bởi đôi khi vẫn còn tình trạng các văn bản chính sách chồng chéo nhau. Cần thúc đẩy từ cơ chế để tạo động lực, từ đó chuyển động khắp các ngành, địa phương, đơn vị, cơ quan, tổ chức để cơ chế được thực thi thuận lợi. Đặc biệt, cần có những quy định để thúc đẩy doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước tham gia vào lĩnh vực này. Để thúc đẩy hợp tác công - tư, cần tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách và quy định liên quan. Chẳng hạn, nhiều cơ quan nhà nước trước đây chỉ hoạt động theo mô hình đơn vị hành chính sự nghiệp, không có chức năng kinh doanh. Nếu muốn chuyển dịch thành các đơn vị có hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa, cần xác định rõ cơ chế chuyển đổi và cách thức vận hành. Nhà nước cũng cần có quy định, hướng dẫn cụ thể để các đơn vị công như hãng phim, bảo tàng, trường đại học... có thể tham gia hoạt động kinh doanh văn hóa với tư cách đơn vị công. Đây là những vấn đề cần sớm được làm rõ. Những chính sách mới sẽ tạo điều kiện để tư nhân tiếp cận vốn, được hỗ trợ về thuế, ưu đãi về không gian, địa điểm, cơ hội quảng bá... Sự hỗ trợ này mang tính bao trùm hơn, khi Nhà nước không chỉ cấp ngân sách cho các đơn vị quản lý nhà nước mà việc tài trợ, hỗ trợ được mở rộng cho cả khối tư nhân, tạo điều kiện để hai bên hợp tác tốt hơn. Khi có cơ chế phù hợp, hợp tác công tư trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa ở Việt Nam sẽ được thúc đẩy, phát huy vai trò của khối tư nhân, đồng thời nâng cao năng lực của cả hai phía trong phát triển công nghiệp văn hóa. n VĂN HÓA

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==