TIỀN PHONG SỐ ĐẶC BIỆT 2/9/2026

42 2 9 LÒ GANG TRONG NÚI Rảo bước chậm rãi qua cánh cổng đá vào khu vực Lò cao kháng chiến Hải Vân (Lò cao NX3) đặt trong hang núi ở thung lũng Đồng Mười (xã Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa), cựu binh Bùi Văn Hoan, không giấu được xúc động trong lần trở lại nơi từng ghi dấu một kỳ tích của ngành quân giới Việt Nam. Hơn bảy thập kỷ trôi qua kể từ ngày lò luyện gang NX3 ngừng hoạt động, tiếng máy đã im lìm, những dòng gang đỏ rực từng tuôn ra từ cửa lò cũng chỉ còn trong ký ức và những trang tư liệu lịch sử. Nhưng giữa lòng núi, thời gian dường như chưa thể xóa hết dấu tích. Ngắm nhìn những thân máy, lò gạch đỏ phủ màu thời gian cùng dây chuyền sản xuất gang ngày trước, trong ánh mắt người cựu binh đã gần 70 tuổi, vẫn ánh lên niềm tự hào đặc biệt về các thế hệ đã đi qua, về một thời kỳ mà đất nước vừa kháng chiến, vừa phải tự mình giải bài toán về nguyên liệu và vũ khí. Ông Đinh Xuân Thắng - Phó Chủ tịch UBND xã Như Thanh, kiêm Trưởng ban quản lý Di tích lịch sử quốc gia Lò cao kháng chiến Hải Vân cho biết, dù những nhân chứng trực tiếp tham gia xây dựng lò gang không còn nhiều, các tư liệu lịch sử vẫn cho thấy phần nào những gian khó, oanh liệt của thế hệ cha anh. Theo tư liệu lịch sử lưu giữ tại UBND xã Như Thanh, năm 1947, trước yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao Cục Quân giới (Bộ Quốc phòng) xây dựng các lò luyện gang nhằm chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất quốc phòng. Lò cao đầu tiên được đặt tại Cầu Đất - Sông Con (thuộc huyện Con Cuông cũ, tỉnh Nghệ An). Trong một lần đến thăm lò cao, ông Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, thấy cán bộ, công nhân bị sốt rét, ốm rất nhiều, điều kiện sinh hoạt công tác nhiều khó khăn nên đã quyết định đưa lò cao về miền xuôi ở Cát Văn (huyện Thanh Chương cũ, tỉnh Nghệ An) và nâng công suất lên 6m3. Không lâu sau, công trình lại bị máy bay Pháp ném bom phá hủy. Trong tình thế cấp bách, ông Võ Quý Huân - người đứng đầu Sở Khoáng chất Kỹ nghệ Trung Bộ thời bấy giờ - xin ý kiến từ Trung ương để tìm địa điểm thay thế. Sau khi cân nhắc nhiều phương án, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chọn thung lũng Đồng Mười (thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, nay là xã Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa) - vùng đất kín đáo, hiểm trở, thuận lợi về quân sự và giàu nguồn nguyên liệu. Đó được đánh giá là quyết định mang tính chiến lược, mở đầu cho sự ra đời của một công trình độc đáo bậc nhất trong lịch sử công nghiệp quân sự Việt Nam. KỲ TÍCH CỦA CHA ÔNG Năm 1949, những kỹ sư hàng đầu của ngành quân giới như Võ Quý Huân, Trần Đại Nghĩa, Trịnh Tam Tĩnh, Lương Ngọc Khuê... cùng đội ngũ công nhân lành nghề tập trung về Đồng Mười xây dựng các lò cao NX1 và NX2. Lò NX1 có dung tích 6,7m3 để sản xuất gang, NX2 dung tích nhỏ hơn (dung tích 1m3) dùng để thử nghiệm. Cả hai lò được ghép liên hoàn trên một quy mô bề thế. Trong quá trình vận hành, máy bay Pháp liên tục ném bom phá hoại. Với tinh thần quyết tâm kháng chiến thắng lợi, đến ngày 19/2/1951, mẻ gang đầu tiên ra lò. Chỉ sau 2 năm, lò cao NX1 và NX2 đã sản xuất và cung cấp được gần 200 tấn gang cho công binh xưởng ở Khu 4 chế tạo vũ khí, phục vụ cho các chiến trường đánh Pháp. Nhưng niềm vui chưa kéo dài thì máy bay Pháp tiếp tục đánh phá dữ dội. Muốn giữ được “trái tim” của ngành quân giới, phải tìm một cách làm chưa từng có tiền lệ. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa quyết định đưa toàn bộ dây chuyền luyện gang vào sâu trong hang đá Đồng Mười, cách vị trí cũ khoảng 2km. Để xây dựng được lò cao trong hang núi, quân đội đã phải dùng tới 400 quả mìn nổ để mở cửa hang, đồng thời nghiên cứu để đưa lò vào hang núi với nhiều bộ phận máy móc như hệ thống xả hơi nước, xả hơi độc, hệ thống thoát khí phải thay đổi cho phù hợp với địa hình. Công việc hết sức khó khăn, kỹ thuật phức tạp, song bằng ý chí và sự sáng tạo của đội ngũ kỹ sư, công nhân, đến tháng 11/1953, lò cao có dung tích 8,3m3, cao 13m, có tên gọi NX3 được lắp đặt hoàn chỉnh trong lòng hang núi Đồng Mười, mỗi ngày sản xuất được hơn 3 tấn gang. Cuối năm ấy, công trình được mang tên Lò cao kháng chiến Hải Vân - ghi nhận những đóng góp to lớn vào chiến thắng tại đèo Hải Vân (tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ). Từ cuối năm 1951 đến tháng 7/1954, lò đã sản xuất hơn 500 tấn gang phục vụ sản xuất lựu đạn, súng cối, đạn Bazoka, chảo, nồi quân dụng cho chiến trường, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ. Đến tháng 12/1954, lò dừng hoạt động, khép lại hành trình lịch sử đầy hào hùng. PGS.TS Mai Văn Tùng - Trưởng khoa Khoa học xã hội, Trường Đại học Hồng Đức cho rằng, điều làm nên giá trị đặc biệt của lò cao kháng chiến Hải Vân không chỉ là sản lượng gang được tạo ra, mà còn ở chỗ toàn bộ công trình được xây dựng bằng trí tuệ và sức lao động của người Việt Nam trong hoàn cảnh thiếu thốn, hiểm nguy. “Lò cao kháng chiến Hải Vân là một trong những cơ sở công nghiệp quân sự đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1946-1954. Nơi đây thể hiện rõ vị trí và vai trò của hậu phương vững chắc, nơi mà ý chí tự lực, tự cường, tinh thần chiến đấu và khả năng tổ chức chiến tranh được thể hiện một cách sáng tạo”, PGS.TS Mai Văn Tùng nhấn mạnh. n Chỉ hoạt động 4 năm (1951 - 1954), nhưng Lò cao kháng chiến Hải Vân xây dựng trong hang đá ở xã Như Thanh (tỉnh Thanh Hóa) đã sản xuất hơn 500 tấn gang, phục vụ sản xuất vũ khí, góp phần cùng cả nước viết nên bản hùng ca về tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc. Lò cao kháng chiến Hải Vân trong hang núi Đồng Mười (xã Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa) Khẩu hiệu còn in trên vách đá LỬA GANG TRONG LÒNG NÚI “Toàn bộ số gang được sản xuất đều từ những phương tiện rất thô sơ, nhưng sản lượng đạt được rất lớn. Điều đó không chỉ duy trì nguồn lực ổn định cho ngành quân giới mà còn thể hiện rõ tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc trong cuộc chiến bảo vệ nền độc lập”. PGS.TS MAI VĂN TÙNG n PHẠM TRƯỜNG Năm 2013, lò cao kháng chiến Hải Vân được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Hơn bảy thập niên sau ngày ngừng hoạt động, nơi đây vẫn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ trẻ. NỀN MÓNG ĐỘC LẬP - HÙNG CƯỜNG

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==