11-12/7/2026 www.tienphong.vn PHÓNG SỰ 5 MỐI DUYÊN CỦA NGƯỜI LÍNH VÀ CÔ CÔNG NHÂN Buổi sáng cuối tháng Năm, bà Nguyễn Thị Ngọ (78 tuổi, trú xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An) lặng lẽ đứng trước Đài tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 trên mảnh đất Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Gió từ cánh đồng thổi qua hàng bạch đàn, khói hương quyện trong nắng sớm. Đôi bàn tay gầy guộc chắp trước ngực, ánh mắt bà không rời tấm bia khắc tên những người lính đã ngã xuống trong trận đánh ngày 26/5/1972. Suốt 54 năm kể từ ngày nhận giấy báo tử, đây là lần đầu tiên bà Ngọ được đặt chân đến nơi người chồng của mình đã chiến đấu và hy sinh. Không có phần mộ để bà quỳ xuống gọi tên. Không có nắm đất nào để biết chắc chồng mình đang nằm ở đâu. Chỉ có một đài tưởng niệm chung giữa cánh đồng lộng gió và ký ức chưa bao giờ phai nhạt. Bà cúi xuống đặt bó hoa cúc vàng, run run thắp nén hương rồi khẽ gọi: “Anh ơi... cuối cùng em cũng tìm được nơi anh nằm lại...”. Lời gọi ấy khiến những người đi cùng đều lặng đi. Người bà gọi bằng “anh” chính là liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh, người chồng đầu tiên của bà. Người mà bà chỉ được làm vợ đúng 4 ngày. Mùa Xuân năm 1968, Nhà máy đường Sông Lam sơ tán về Nam Đàn (Nghệ An). Sau ca làm đêm, cô công nhân Nguyễn Thị Ngọ gánh nước giúp mẹ. Một người lính trẻ trên đường hành quân ghé lại: “Để anh gánh giúp”. Cô gái ngượng ngùng từ chối. Hai người đứng bên giếng nói chuyện. Chàng lính tự giới thiệu tên Nguyễn Văn Đinh, đơn vị dừng quân ba ngày trước khi tiếp tục hành quân vào Nam. Trước lúc chia tay, anh xin địa chỉ rồi nói: “Tối anh sang thăm hai bác”. Cô gái chỉ cười, nghĩ đó là lời xã giao của người lính trẻ. Nhưng tối hôm ấy, anh đến thật. Sau câu chuyện với bố mẹ, hai người ngồi ngoài sân dưới ánh đèn dầu. “Anh kể về tuổi thơ thiếu mẹ, lớn lên nhờ các cậu, các dì cưu mang. Kể về những người bạn cùng trang lứa đã khoác ba lô ra trận, kể về ước nguyện đất nước hòa bình… Càng nghe, tôi càng thương anh”, bà Ngọ kể, đôi mắt đỏ hoe. Sau lần gặp ấy là những cánh thư nối dài. Mỗi lá thư là một niềm mong, mỗi dòng chữ là một lời hẹn. Gần hai năm sau, họ mới gặp lại. Cuộc gặp chỉ kéo dài ba giờ trước khi anh lính lên đường ra Bắc nhưng đủ để cả hai quyết định gắn bó. Ngày 6/11/1971, họ tổ chức đám cưới. Không váy cưới, không ảnh cưới, không tuần trăng mật. Chỉ có đôi câu đối người lính gửi về trước ngày thành hôn: “Trai thêu Tổ quốc vui lòng vợ/ Gái dệt non sông thắm ý chồng”. Ba ngày sau khi đưa vợ ra mắt gia đình ở Thanh Hóa, người lính Nguyễn Văn Đinh lặng lẽ trở về đơn vị. Bà Ngọ thức dậy, không thấy chồng đâu. Bố chồng bảo anh đã lên đường ra đơn vị để vào mặt trận: “Nó đi đơn vị rồi. Không dám nói với con vì sợ con khóc”. Người vợ trẻ òa lên nức nở. Một tháng sau, trong lần đơn vị hành quân qua Nghệ An, nhà máy tạo điều kiện cho bà về gặp chồng. “Anh cầm tay tôi bảo, giải phóng đất nước xong anh sẽ về. Anh dặn tôi giữ gìn sức khỏe, nhớ hai chữ thủy chung. Tôi chỉ biết khóc... Không ngờ đó là lần cuối được nhìn thấy anh”, bà Ngọ nghẹn ngào. Chiếc xe chuyển bánh. Bà đứng nhìn theo cho đến khi chỉ còn bụi đỏ. Ít tháng sau, những lá thư thưa dần rồi bặt hẳn. Cuối năm 1972, giấy báo tử được gửi về. Người vợ trẻ khi ấy mới ngoài đôi mươi. TẤM ẢNH NGƯỜI LÍNH NƠI ĐẦU GIƯỜNG Bốn năm sau ngày nhận giấy báo tử, trước sự động viên của gia đình và đồng nghiệp, bà Nguyễn Thị Ngọ mới chấp nhận đi thêm bước nữa. Người đến với bà là ông Đậu Quang Thuận, đồng nghiệp cùng nhà máy. Ông hiểu hơn ai hết mối tình sâu nặng giữa bà và người chồng liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh. Bởi vậy, ông chọn bước vào cuộc hôn nhân ấy bằng sự cảm thông, sẻ chia và lòng bao dung hiếm có. “Tôi biết ơn ông ấy lắm. Nếu không có sự bao dung ấy thì tôi không biết mình sẽ sống thế nào. Ông ấy chưa bao giờ bắt tôi quên anh Đinh”, bà Ngọ xúc động. Trong ngôi nhà nhỏ bên dòng sông Lam, trên bàn thờ vẫn trang trọng đặt di ảnh của cả hai người chồng. Bà Ngọ kể, suốt những năm tháng chung sống, người chồng thứ hai chưa một lần tỏ ý ghen hay khó chịu khi bà vẫn dành trọn sự tưởng nhớ cho người đã khuất. “Tôi vẫn trò chuyện với anh Đinh như ngày anh còn sống. Ngay cả khi chúng tôi có với nhau ba mặt con, ông Thuận cũng không một lời nặng nhẹ khi tôi vẫn để ảnh anh Đinh ở đầu giường”, bà tâm sự. Chị Đậu Thị Lê Na, con gái út của bà Ngọ, kể rằng, từ nhỏ, ba chị em đã lớn lên cùng những câu chuyện về người bác liệt sĩ. Với họ, bác Đinh chưa bao giờ là một người xa lạ. “Có lần chị em tôi sắp xếp album gia đình, vô tình để ảnh bác Đinh xuống phía sau. Bố lấy ra, đặt lên đầu rồi bảo: “Các con phải biết ơn bác. Nếu không có những người như bác thì làm gì có cuộc sống hòa bình hôm nay”. Từ đó, chúng tôi luôn coi bác Đinh như người thân trong gia đình”, chị Na chia sẻ. Khi biết mẹ đã xác định được nơi người chồng đầu hy sinh, chính ba người con là những người đưa bà trở lại Quảng Trị. Họ hiểu rằng, sau hơn nửa thế kỷ, điều mẹ cần không chỉ là một chuyến đi mà là cơ hội được thắp nén hương nơi người mình yêu đã ngã xuống. “Tôi chỉ mong một ngày nào đó tìm được anh Đinh để đưa anh về quê. Nếu không được thì ít nhất, giờ đây tôi cũng biết anh đã nằm lại nơi nào. Như thế, lòng tôi cũng thanh thản hơn”, bà Ngọ bày tỏ. Không chỉ đau đáu tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh, nhiều năm qua, gia đình bà Ngọ còn mòn mỏi chờ tin liệt sĩ Đậu Dương Thanh (SN 1945), anh trai ông Đậu Quang Thuận. Cuối năm 1964, khi là Thượng sĩ, Tiểu đội trưởng thuộc P1.M, người lính Đậu Dương Thanh đã anh dũng hy sinh tại chiến trường miền Nam. 62 năm trôi qua, gia đình vẫn chưa có bất kỳ thông tin nào về nơi ông yên nghỉ. n SAU 54 NĂM KỂ TỪ NGÀY LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN ĐINH NGÃ XUỐNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ, BÀ NGUYỄN THỊ NGỌ (NGHỆ AN) MỚI ĐƯỢC ĐỨNG TRÊN MẢNH ĐẤT ÔNG HY SINH. HÀNH TRÌNH ẤY KHÉP LẠI NỖI KHẮC KHOẢI CỦA MỘT NGƯỜI VỢ, NHƯNG MỞ RA CÂU CHUYỆN LAY ĐỘNG VỀ TÌNH YÊU, SỰ THỦY CHUNG KHÔNG PHAI THEO NĂM THÁNG. THU HIỀN Bà Nguyễn Thị Ngọ bên Tấm bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh Bức ảnh liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh và bà Nguyễn Thị Ngọ thời trẻ Rạng sáng 26/5/1972, tại khu vực cầu Câu Nhi – sông Mỹ Chánh (Quảng Trị), Trung đoàn 88 (Sư đoàn 308) được giao nhiệm vụ chặn bước tiến của quân địch từ Huế ra Quảng Trị. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh sập cầu, đơn vị bị đối phương phát hiện và hứng chịu hỏa lực đánh phá dữ dội. 93/110 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh chỉ trong một trận đánh. Nhiều liệt sĩ bị bom đạn vùi lấp, đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt, trong đó có liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh. 4 NGÀY LÀM VỢ, 54 NĂM ĐỢI CHỜ
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==