Báo Tiền Phong số 191

tế. Để góp phần kiểm soát lạm phát, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm bình ổn thị trường xăng dầu trong nước. Đến thời điểm này, giá xăng dầu đã giảm về mức thấp hơn so với trước khi xung đột ở Trung Đông diễn ra. “Bộ nào quản lý mặt hàng nào thì có trách nhiệm rà soát, đánh giá nguyên nhân vì sao giá đầu vào sản xuất đã giảm nhưng giá hàng hóa, dịch vụ chưa giảm tương ứng”, bà Hiền nhấn mạnh và cho biết, từ đầu năm đến nay lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra hơn 1.200 vụ việc liên quan đến giá và niêm yết giá trong lĩnh vực xăng dầu, xử phạt vi phạm hành chính khoảng 1,3 tỷ đồng. Đại diện Bộ Công Thương cho biết, bộ này đang tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến giá xăng dầu và tác động lan tỏa tới thị trường. Cùng với việc bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc kê khai, niêm yết và bán hàng theo giá niêm yết; kịp thời phát hiện, xử lý những hành vi lợi dụng biến động chi phí đầu vào để tăng giá bất hợp lý hoặc đầu cơ, găm hàng... Chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh cho rằng, trong bối cảnh mục tiêu kiểm soát lạm phát vẫn được Chính phủ đặt lên hàng đầu, việc theo dõi sát diễn biến giá cả trên thị trường là yêu cầu cần thiết. Đặc biệt, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có tỷ trọng chi phí nhiên liệu lớn cần được giám sát để bảo đảm lợi ích từ việc giảm giá đầu vào sản xuất được truyền dẫn tới người tiêu dùng. DƯƠNG HƯNG 11 KINH TẾ n Thứ Sáu n Ngày 10/7/2026 GDP 6 THÁNG ĐẠT CAO NHẤT TRONG 15 NĂM Kinh tế Việt Nam khép lại nửa đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực. Theo Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn, GDP 6 tháng đầu năm tăng 8,18% - mức cao nhất cùng kỳ kể từ năm 2011. Trong đó, khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đóng góp hơn 88% vào tăng trưởng; có 9 địa phương tăng trưởng hai con số, trong khi Hà Nội và TPHCM đều cải thiện đáng kể so với thời điểm tháng 5. Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, nhiều chỉ tiêu vĩ mô tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Thu ngân sách nhà nước đạt gần 1,57 triệu tỷ đồng, bằng 62% dự toán. Nhà nước đã miễn, giảm thuế, phí khoảng 89.000 tỷ đồng, đồng thời gia hạn, hoàn thuế khoảng 125.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Giải ngân vốn đầu tư công cũng được cải thiện, đạt gần 357.000 tỷ đồng, tương đương 35,5% kế hoạch năm. Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt; thị trường tiền tệ, ngoại hối và tỷ giá cơ bản ổn định, góp phần duy trì niềm tin của nhà đầu tư và bảo đảm dòng vốn cho sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, những kết quả trên mới chỉ tạo nền tảng cho chặng đường phía trước. Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, mức tăng trưởng 8,18% vẫn thấp hơn 1,52 điểm phần trăm so với kịch bản đặt ra để hoàn thành mục tiêu cả năm. Điều này đồng nghĩa nền kinh tế phải đạt mức tăng trưởng khoảng 11,7% trong 6 tháng cuối năm - một nhiệm vụ rất nặng nề. Áp lực không chỉ đến từ mục tiêu tăng trưởng cao. Tiêu dùng trong nước phục hồi chậm hơn kỳ vọng; giải ngân đầu tư công, nhất là các dự án khoa học - công nghệ, chưa đáp ứng yêu cầu. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, thị trường lao động vẫn xuất hiện tình trạng thiếu - thừa cục bộ, trong khi đời sống của một bộ phận người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, còn gặp nhiều khó khăn. Theo TS Nguyễn Quốc Việt, giảng viên Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), kết quả tăng trưởng nửa đầu năm phản ánh sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, đặc biệt trong tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp. Ông Việt cho rằng, để duy trì đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm, trước hết cần phát huy hiệu quả các động lực hiện có, trong đó đầu tư công tiếp tục giữ vai trò then chốt. Đầu tư công không chỉ thúc đẩy tăng trưởng trực tiếp mà còn đóng vai trò “vốn mồi”, tạo hạ tầng để dẫn dắt dòng vốn tư nhân. KINH TẾ TƯ NHÂN PHẢI TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG NHẤT Phát huy hiệu quả đầu tư công và cải cách thể chế sẽ tạo dư địa tăng trưởng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới, Việt Nam cần sớm chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mới đây, sau 17 năm nằm trong nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Theo TS Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam, đây không chỉ là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn khẳng định mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu và hội nhập đã phát huy hiệu quả trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, theo ông Bình, những lợi thế từng tạo nên sức cạnh tranh của nền kinh tế như lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên sẽ dần suy giảm khi Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới. “Trong giai đoạn tới, động lực tăng trưởng phải chuyển mạnh sang dựa trên năng suất các nhân tố tổng hợp, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tri thức. Đây không chỉ là yêu cầu để duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn là điều kiện để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, ông Bình nhấn mạnh. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, theo ông Bình, điều quan trọng nhất tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện bộ máy thực thi pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Khi chi phí tuân thủ được cắt giảm, nguồn lực xã hội sẽ được giải phóng mạnh mẽ hơn cho đầu tư và đổi mới sáng tạo. Ở góc độ dài hạn, TS Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, cho rằng tăng trưởng kinh tế luôn được hình thành từ nhiều động lực (như: đầu tư công, xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tiêu dùng trong nước). Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không quốc gia nào có thể duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài nếu không xây dựng được một khu vực doanh nghiệp trong nước đủ mạnh. Theo ông Lâm, đầu tư công có thể tạo dựng hạ tầng và dẫn dắt phát triển; FDI bổ sung nguồn vốn, công nghệ và mở rộng thị trường. Nhưng chỉ khu vực doanh nghiệp trong nước mới có khả năng tạo ra nền tảng bền vững cho năng lực cạnh tranh quốc gia (thông qua việc làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu). “Yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà còn phải tăng trưởng bền vững hơn, giảm phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài và nâng cao sức chống chịu trước các biến động toàn cầu. Muốn làm được điều đó, kinh tế tư nhân phải thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của mô hình tăng trưởng mới”, ông Lâm nhấn mạnh. NGỌC LINH GDP 6 tháng đầu năm cao nhất trong 15 năm qua, tuy nhiên để đạt mục tiêu cả năm 2026 vẫn còn nhiều thách thức. Chuyên gia kinh tế cho rằng, việc phát huy hiệu quả đầu tư công, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải cách thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khơi thông sức mạnh của khu vực kinh tế tư nhân sẽ là những động lực then chốt để tạo bứt phá. Động lực nào để kinh tế Việt Nam bứt phá nửa cuối năm? Trong 6 tháng đầu năm, cả nước có gần 170 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 1,8 triệu tỷ đồng. Vốn FDI đăng ký đạt 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đầu tư công, kinh tế tư nhân là một trong các động lực cho tăng trưởng kinh tế. Trong ảnh, công nhân nhà máy thép Hòa Phát ẢNH NHƯ Ý giảm giá bán. Nếu chỉ nhìn vào giá xăng sẽ không phản ánh đầy đủ chi phí mà quán đang phải gánh”, chủ quán nói. MINH BẠCH ĐỂ HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG “NEO GIÁ” Trao đổi với PV Tiền Phong, TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TPHCM nhận định, hiện tượng giá xăng dầu liên tục giảm nhưng nhiều hàng hóa, dịch vụ vẫn giữ nguyên giá là khá phổ biến. Theo ông Thuận, ngoài yếu tố chi phí, còn tồn tại tâm lý “neo giá” của một bộ phận cơ sở kinh doanh. Khi giá xăng dầu tăng, nhiều mặt hàng lập tức điều chỉnh theo với lý do chi phí đầu vào tăng. Ngược lại, khi giá xăng giảm, không ít nơi vẫn giữ nguyên mức giá đã tăng trước đó. Trong khi Việt Nam hiện vẫn chưa có cơ chế quản lý giá dựa trên chi phí thực tế. Chính vì vậy, cơ quan quản lý khó có căn cứ để đánh giá việc tăng hoặc giữ giá của doanh nghiệp có hợp lý hay không. Để hạn chế tình trạng này, ông Thuận đề xuất nghiên cứu cơ chế yêu cầu doanh nghiệp, hộ kinh doanh và các cơ sở buôn bán đăng ký định mức chi phí cũng như lợi nhuận định mức. Khi đó, cơ quan quản lý sẽ có căn cứ theo dõi quá trình hình thành giá bán và đánh giá mức độ hợp lý của việc điều chỉnh giá khi các yếu tố đầu vào thay đổi. Theo ông Thuận, việc đăng ký chi phí không nhằm mục đích tính thuế mà hướng đến minh bạch quá trình hình thành giá, góp phần hạn chế tình trạng “neo giá” và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Cơ chế này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực hàng hóa mà còn có thể nghiên cứu áp dụng ở một số lĩnh vực khác. Đơn cử, ngành ngân hàng cần xác định rõ chi phí hoạt động và lợi nhuận hợp lý để làm cơ sở xây dựng lãi suất cho vay, qua đó hỗ trợ công tác điều hành và tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí phù hợp. Trong khi chờ những giải pháp quản lý phát huy hiệu quả, điều mà nhiều người tiêu dùng mong mỏi vẫn là sự điều chỉnh hợp lý của thị trường. Bởi nếu giá hàng hóa tăng rất nhanh mỗi khi xăng dầu tăng, người dân cũng kỳ vọng khi xăng đã giảm sâu, những lợi ích đó sẽ sớm được phản ánh vào từng mâm cơm, từng bữa ăn và những khoản chi tiêu thiết yếu hằng ngày. UYÊN PHƯƠNG “Nếu đầu tư công tạo lực kéo ngắn hạn thì cải cách thể chế mới là yếu tố quyết định khả năng duy trì tăng trưởng trong trung và dài hạn. Nửa cuối năm 2026 cần tiếp tục cải cách thể chế một cách thực chất. Không nên để tình trạng vừa tháo gỡ một rào cản lại phát sinh thêm những quy định, thủ tục hoặc điều kiện kinh doanh mới làm giảm động lực đầu tư của doanh nghiệp”. TS NGUYỄN QUỐC VIỆT (Đại học Quốc gia Hà Nội)

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==