13 ĐỜI SỐNG - XÃ HỘI n Thứ Tư n Ngày 1/7/2026 TỪ NGƯỜI THỢ LÒ ĐẾN QUẢN ĐỐC TIÊU BIỂU Sinh năm 1977, anh Phạm Quốc Tiền đến với nghề mỏ năm 1998 sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Khai thác mỏ hầm lò tại Trường Công nhân kỹ thuật Hữu nghị Việt - Xô Uông Bí (nay là Phân hiệu Đào tạo Uông Bí, Trường Cao đẳng Than - Khoáng sản Việt Nam). Thời điểm đó, nghề thợ lò còn nhiều gian khó, ít người lựa chọn, nhưng với anh, đây là nghề để gắn bó lâu dài. Không bằng lòng với vốn kiến thức ban đầu, vừa làm việc anh vừa tiếp tục học đại học chuyên ngành khai thác mỏ. Sau khi trở thành kỹ sư năm 2008, anh lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí từ Lò trưởng, Phó Quản đốc, phụ trách điều hành sản xuất đến Quản đốc các công trường khai thác - đào lò. Mỗi cương vị đều giúp anh tích lũy thêm kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng quản lý. Từ cuối năm 2023, anh được giao phụ trách Công trường Khai thác - Đào lò 9. Dưới sự điều hành của anh, đơn vị liên tục hoàn thành vượt kế hoạch, sản lượng hằng năm cao hơn từ 6-11% so với chỉ tiêu giao. Thu nhập bình quân của người lao động đạt gần 21 triệu đồng/người/ tháng. SÁNG KIẾN TỪ THỰC TIỄN SẢN XUẤT Điều làm nên dấu ấn của anh Phạm Quốc Tiền không chỉ là năng lực quản lý mà còn là tinh thần nghiên cứu, đổi mới ngay từ hiện trường sản xuất. Quan niệm "cái khó ló cái khôn", anh luôn tìm giải pháp để xử lý những bài toán phát sinh trong khai thác hầm lò. Nhiều sáng kiến của anh đã được áp dụng hiệu quả, góp phần giảm chi phí, nâng cao năng suất và tận thu tối đa tài nguyên. Tiêu biểu là giải pháp thi công đào chống lò thượng phục vụ vận tải, đi lại và cung cấp vật liệu cho các lò chợ, giúp giảm tình trạng lún nén đường lò, hạn chế chi phí sửa chữa. Một sáng kiến khác về thi công hệ thống lò chợ ngang nghiêng trong điều kiện vỉa dốc lớn đã giúp tận thu khoảng 65.000 tấn than, giảm đáng kể tổn thất tài nguyên. Đáng chú ý, tháng 5/2026, anh được công nhận danh hiệu "Lao động sáng tạo" với giải pháp nghiên cứu, thiết kế phương án khai thác tận thu lò chợ 14.210 số 2. Sau khi áp dụng, sáng kiến giúp khai thác thêm 3.377 tấn than so với thiết kế ban đầu, đồng thời tận dụng đường lò hiện có để thu hồi giá xích, không phải đào mới 125 m đường lò, mang lại giá trị làm lợi khoảng 750 triệu đồng. Những đóng góp bền bỉ ấy đã giúp anh nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở; được tặng Bằng khen của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2020, Bằng khen của Bộ Tài chính năm 2024 cùng nhiều phần thưởng khác. Gần 28 năm gắn bó với Than Khe Chàm, từ một người thợ lò, anh Phạm Quốc Tiền đã trở thành người quản đốc giàu bản lĩnh, luôn truyền cảm hứng đổi mới và sáng tạo cho đồng nghiệp. Với anh, mỗi sáng kiến không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần xây dựng môi trường làm việc an toàn hơn, nâng cao thu nhập người lao động và giữ vững nhịp sản xuất nơi hầm lò. NGUYỄN HẠNH Quản đốc sáng tạo giữ nhịp sản xuất Gần 30 năm gắn bó với Than Khe Chàm, anh Phạm Quốc Tiền - Quản đốc Công trường Khai thác - Đào lò 9 không chỉ là cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm mà còn là hạt nhân của phong trào lao động sáng tạo. Những sáng kiến từ thực tiễn sản xuất cùng cách điều hành linh hoạt đã góp phần nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho người lao động và đưa đơn vị nhiều năm liền hoàn thành vượt mức kế hoạch. Anh Phạm Quốc Tiền - Quản đốc giỏi, sáng tạo của Than Khe Chàm Từ năm 2023 đến nay, Công trường Khai thác - Đào lò 9 có 9 lượt công nhân được tuyên dương danh hiệu "Người thợ mỏ - Người chiến sĩ"; gần 70 lượt được Giám đốc Công ty khen thưởng trong các phong trào thi đua. Đặc biệt, số công nhân có thu nhập trên 400 triệu đồng/ năm tăng từ 8 người trong các năm 2023-2024 lên 11 người trong năm 2025. NHIỀU KHU DÂN CƯ CHƯA TIẾP CẬN NƯỚC MÁY Trong giai đoạn mùa khô 20252026 và cả những mùa khô trước đó, tình trạng thiếu nước sạch cục bộ tại phường Khánh Hòa (Cần Thơ) thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của hàng nghìn hộ dân. Phường Khánh Hoà ven sông Mỹ Thanh (thuộc Sóc Trăng cũ), có diện tích gần 134 km2 với hơn 37.000 dân. Những năm qua, hệ thống cấp nước tập trung trên địa bàn phường đã được đầu tư phục vụ sinh hoạt. Tuy nhiên, trước diễn biến cực đoan của biến đổi khí hậu, tình trạng xâm nhập mặn xuất hiện sớm, kéo dài và xâm nhập sâu vào kênh rạch nội đồng khiến việc đảm bảo nguồn nước sạch ổn định ngày càng thách thức. Có thời điểm, độ mặn trên sông, kênh rạch vượt ngưỡng cho phép buộc các trạm cấp nước phải giảm công suất, hoặc tạm ngưng hoạt động vì không thể lấy nước xử lý cấp cho sinh hoạt. Khi mất nước, nhiều gia đình phải mua nước đóng bình với giá từ 10.000 - 15.000 đồng/bình 20 lít, mỗi ngày 1-2 bình, chủ yếu cho ăn uống, làm tăng thêm gánh nặng kinh tế. Thống kê từ UBND phường Khánh Hòa cho thấy, hiện toàn phường còn hơn 1.300 hộ (hơn 6.000 người) chưa được tiếp cận nước máy. Người dân vùng này chủ yếu phụ thuộc vào nước giếng khoan, nước tự nhiên chưa đạt chuẩn. Còn tại xã Liêu Tú (cũng thuộc Sóc Trăng cũ), tỷ lệ hộ dân tiếp cận nước sạch đạt gần 88%, nhưng nhiều khu vực vẫn thiếu nguồn nước ổn định vào cao điểm mùa khô. Trong số gần 6.000 hộ dân toàn xã, vẫn còn gần 200 hộ chưa được tiếp cận nguồn nước ổn định do sinh sống ở khu vực xa mạng lưới cấp nước. Bên cạnh đó, nhiều tuyến ống nhỏ, đầu tư đã lâu, nên thường xảy ra thiếu nước vào mùa khô, hoặc giờ cao điểm khi nhu cầu tăng cao. Trước đó, cuối năm 2025, trong báo cáo gửi UBND TP. Cần Thơ, Công ty CP Cấp nước Sóc Trăng cũng ghi nhận phản ánh của người dân tình trạng chất lượng nước sinh hoạt kém, áp lực yếu tại địa bàn TP. Sóc Trăng (cũ). Công ty này lý giải, tình trạng này do một số thời điểm (đặc biệt mùa khô), nước nguồn các nhà máy bị giảm lưu lượng. Công ty CP Cấp nước Sóc Trăng đang quản lý, khai thác 23 nhà máy/trạm xử lý nước. Trong đó, tại phường Sóc Trăng và phường Phú Lợi có 6 nhà máy/ trạm cấp nước khai thác từ 24 giếng nước ngầm phục vụ sinh hoạt. Tuy nhiên, các giếng khoan hiện hữu đang dần bị nhiễm mặn, mực nước hạ thấp, khả năng bổ cập nguồn nước chậm, trữ lượng không đảm bảo cho việc khai thác và chất lượng nguồn nước ngày càng xấu. MỤC TIÊU 85% HỘ DÂN NÔNG THÔN CÓ NƯỚC SẠCH Quy hoạch điều chỉnh sau sáp nhập của TP Cần Thơ đặt mục tiêu đến năm 2030, trên 85% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch đạt chuẩn. Để đạt mục tiêu này, Cần Thơ sẽ phải đẩy mạnh phát triển nguồn và hệ thống cấp nước sạch vùng nông thôn Sóc Trăng cũ, khi khu vực này hiện mới có 68% dân cư được dùng nước sạch (khu vực Hậu Giang cũ đạt gần 95%, khu vực Cần Thơ cũ đạt hơn 96%). Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Cần Thơ đánh giá, vào mùa khô, lưu lượng từ thượng nguồn suy giảm, dòng chảy yếu, nước mặn từ biển Đông sẽ xâm nhập sâu vào hệ thống sông chính và các kênh nhánh. Vào mùa khô, các khu vực ven biển và cửa sông (như sông Mỹ Thanh, Trần Đề) chịu ảnh hưởng nặng nề của xâm nhập mặn. Do đó, khu vực Sóc Trăng cũ chủ yếu sử dụng nước ngầm, nhưng hoạt động này kéo dài làm suy giảm các tầng nước, nhiều tầng chứa nước đã có dấu hiệu nhiễm mặn. Để giải quyết bài toán nước sạch sinh hoạt, Quy hoạch điều chỉnh TP Cần Thơ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định, ưu tiên đầu tư, nâng công suất các nhà máy nước, trạm cấp nước, hệ thống dẫn nước liên vùng để bổ sung, mở rộng mạng lưới cấp nước sinh hoạt. Cần Thơ cũng đặt nhiệm vụ phát triển các hồ, công trình trữ nước để cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho các khu vực chưa đảm bảo nguồn cấp nước, từng bước hạn chế, thay thế khai thác nước ngầm, đặc biệt khu vực ven biển. PHẠM THANH Giải bài toán cấp nước sinh hoạt cho vùng ven biển Cần Thơ Sau sáp nhập, TP. Cần Thơ đã có biển, với toàn bộ khu vực Sóc Trăng cũ giáp biển. Điều này mở ra lợi thế phát triển kinh tế biển cho Cần Thơ, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt, sản xuất ở những vùng ven biển thường xuyên chịu tác động bởi hạn hán, xâm nhập mặn. Ao nuôi cá tra trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, TP Cần Thơ cạn nước do khô hạn đầu năm 2026 ẢNH: NH Báo Tiền Phong và đối tác tặng hệ thống máy lọc nước nhiễm mặn cho người dân khu vực thiếu nước ở phường Khánh Hòa, TP Cần Thơ
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==