Báo Tiền Phong số 173

Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng miếng SJC ở mức 144,2 - 147,2 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), không thay đổi so với sáng 20/6. Tuy nhiên, so với đầu tuần, giá vàng đã giảm khoảng 3,3 triệu đồng/lượng. Với mức điều chỉnh này, những người mua vàng miếng SJC từ đầu tuần nếu bán ra trong ngày 21/6 sẽ chịu khoản lỗ kép lên tới khoảng 6,3 triệu đồng/lượng. Nguyên nhân không chỉ đến từ việc giá vàng giảm mà còn do chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra ở mức cao, khoảng 3 triệu đồng/ lượng. Không chỉ vàng miếng, thị trường vàng nhẫn cũng ghi nhận đà giảm mạnh trong tuần qua. Hiện vàng nhẫn tròn trơn Bảo Tín Minh Châu được giao dịch ở mức 143,7 - 147 triệu đồng/lượng; vàng nhẫn SJC ở mức 144,1 - 147,1 triệu đồng/lượng; vàng nhẫn Phú Quý niêm yết 143 - 146,5 triệu đồng/lượng. Theo tính toán, người mua vàng nhẫn từ đầu tuần đến nay đang lỗ từ 6-7 triệu đồng/ lượng, tùy từng thương hiệu và thời điểm giao dịch. Dù đã điều chỉnh giảm trong tuần vừa qua, giá vàng trong nước vẫn duy trì ở vùng cao. Điều này khiến rủi ro đối với các giao dịch ngắn hạn gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh biên độ chênh lệch mua - bán vẫn ở mức lớn, khiến nhà đầu tư dễ thua lỗ nếu lướt sóng trong thời gian ngắn. Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay hiện dao động quanh ngưỡng 4.155 USD/ ounce, tương đương khoảng 132,4 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá ngân hàng. So với giá thế giới, vàng trong nước vẫn đang cao hơn gần 15 triệu đồng/lượng. NGỌC MAI TĂNG DƯ ĐỊA TÍN DỤNG CHO LĨNH VỰC NÀO? Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến đối với dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%. Theo quy định hiện hành, tỷ lệ này đã được điều chỉnh giảm dần trong nhiều năm, từ mức 40% xuống 37%, 34% và chính thức còn 30% kể từ tháng 10/2023. Nếu được thông qua, đây sẽ là lần đầu tiên sau nhiều năm Ngân hàng Nhà nước nới lại giới hạn này, đưa tỷ lệ trở về mức áp dụng trước năm 2020. Động thái trên được Ngân hàng Nhà nước lý giải nhằm thực hiện các chủ trương của Đảng và Chính phủ về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số nhưng vẫn bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho biết, chính sách mới sẽ giúp các ngân hàng thương mại có thêm không gian cung ứng tín dụng trung và dài hạn, đồng thời giảm áp lực phải huy động nguồn vốn dài hạn với chi phí cao. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và sản xuất đang gia tăng mạnh trong giai đoạn tới. “Nới tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn sẽ giúp hệ thống ngân hàng linh hoạt hơn trong phân bổ nguồn vốn, qua đó nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế”, ông Huy nhận định. Những lĩnh vực được kỳ vọng hưởng lợi lớn gồm hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics, khu công nghiệp và sản xuất kinh doanh. Đây đều là các ngành có nhu cầu vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện năng suất lao động và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với thị trường bất động sản, chính sách mới cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dự án có tính khả thi cao, đặc biệt là nhà ở xã hội, bất động sản công nghiệp và những dự án đã hoàn thiện pháp lý. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn dài hạn, việc mở rộng dư địa tín dụng có thể góp phần thúc đẩy nguồn cung mới cho thị trường. RỦI RO THANH KHOẢN Dù được đánh giá là bước điều chỉnh phù hợp, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cũng làm gia tăng áp lực quản trị rủi ro đối với các tổ chức tín dụng. Theo ông Nguyễn Quang Huy, bản chất hoạt động ngân hàng là huy động vốn chủ yếu ở kỳ hạn ngắn nhưng cho vay với thời hạn dài hơn. Khi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn được nâng lên, khoảng chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn cũng gia tăng. Trong điều kiện thị trường ổn định, rủi ro này có thể được kiểm soát. Tuy nhiên, nếu xuất hiện các cú sốc về tâm lý thị trường hoặc có sự thay đổi mạnh trong hành vi gửi tiền của người dân, áp lực thanh khoản đối với ngân hàng có thể tăng đáng kể. Bên cạnh đó, rủi ro lãi suất cũng là yếu tố cần được lưu ý. Chi phí huy động vốn ngắn hạn thường biến động nhanh theo thị trường, trong khi lãi suất của các khoản vay trung và dài hạn khó điều chỉnh ngay lập tức. Điều này có thể làm thu hẹp biên lợi nhuận hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng nếu mặt bằng lãi suất tăng trở lại. Một nguy cơ khác là việc dòng vốn tập trung quá mức vào các lĩnh vực có chu kỳ đầu tư dài hoặc biến động mạnh. Nếu chất lượng thẩm định tín dụng không được kiểm soát tốt, rủi ro nợ xấu có thể gia tăng trong tương lai, đặc biệt ở những ngành chịu tác động lớn từ biến động kinh tế hoặc thị trường. NGỌC MAI Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được các chuyên gia đánh giá là bước điều chỉnh phù hợp với bối cảnh mới, tạo thêm dư địa tín dụng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội hỗ trợ tăng trưởng là những rủi ro về thanh khoản, chênh lệch kỳ hạn mà hệ thống ngân hàng cần kiểm soát chặt chẽ. Sáng 21/6, giá vàng miếng SJC ở mức 147,2 triệu đồng/ lượng, giảm hơn 3 triệu đồng/lượng từ đầu tuần. Nếu bán ra trong ngày, người mua lỗ lên đến hơn 6 triệu đồng/lượng. Ngân hàng Nhà nước đề xuất nới lại giới hạn cho vay dài hạn về mức áp dụng trước năm 2020 5 n Thứ Hai n Ngày 22/6/2026 KINH TẾ Ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng, việc nới trần tỷ lệ lên 40% không nên được nhìn nhận đơn thuần là động thái hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị của từng ngân hàng. Để tận dụng hiệu quả dư địa chính sách mới, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục nâng cao năng lực quản trị tài sản - nguồn vốn, tăng cường các kịch bản kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản, đồng thời duy trì các bộ đệm an toàn cần thiết. NỚI TRẦN VỐN NGẮN HẠN CHO VAY DÀI HẠN: Người mua vàng lỗ nặng trong tuần qua Cơ hội đi kèm rủi ro thanh khoản Người mua vàng lỗ nặng Nhập siêu tăng 2,8 tỷ USD chỉ sau nửa tháng Đến hết tháng 5, Việt Nam nhập siêu khoảng 13,8 tỷ USD. Trong khi cùng kỳ năm ngoái, cán cân thương mại vẫn xuất siêu khoảng 2,6 tỷ USD, cho thấy cán cân thương mại đã đảo chiều rõ nét chỉ sau một năm. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/6, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 496,7 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 239,9 tỷ USD, nhập khẩu đạt 256,7 tỷ USD, đưa mức nhập siêu lên gần 16,8 tỷ USD. Việc nhập siêu tiếp tục nới rộng xuất phát từ việc nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. So với cuối tháng 5, kim ngạch xuất khẩu tăng thêm khoảng 24,3 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng khoảng 27,3 tỷ USD. Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu cho thấy nhu cầu của doanh nghiệp vẫn chủ yếu tập trung vào hoạt động sản xuất. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục là nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch hơn 99,2 tỷ USD, tiếp đến là máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt hơn 31,1 tỷ USD. Doanh nghiệp cũng tăng nhập khẩu nhiều nguyên liệu đầu vào như vải các loại, kim loại thường, chất dẻo nguyên liệu, xăng dầu và sắt thép phục vụ hoạt động chế biến, chế tạo. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu vẫn được dẫn dắt bởi nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 63,5 tỷ USD, dẫn đầu các mặt hàng xuất khẩu; tiếp theo là máy móc, thiết bị với gần 29,9 tỷ USD và điện thoại, linh kiện đạt 29 tỷ USD. Chỉ 3 nhóm hàng này đã mang về hơn 122 tỷ USD, chiếm trên một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bên cạnh đó, nhiều ngành hàng truyền thống vẫn duy trì quy mô xuất khẩu lớn như dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản. Theo đánh giá của Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, nhập khẩu tăng mạnh trong những tháng đầu năm chủ yếu tập trung ở nhóm tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, nguyên vật liệu cho dệt may, da giày và các ngành chế biến, chế tạo. DƯƠNG HƯNG Theo Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 6, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 24,2 tỷ USD, trong khi nhập khẩu đạt 26,9 tỷ USD, khiến cán cân thương mại nhập siêu khoảng 2,8 tỷ USD trong kỳ.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==