Tim Nguyễn - người đã đi xa quá lâu, ông viết đủ để rõ cả hai bờ. Ở đây, một bờ là xứ người lạnh lẽo và một bờ là quê nhà ấm áp. Cả hai bên đều bất toàn và giữa cả hai là khoảng cách. Thật khó dứt khoát được nên đứng hẳn về phía nào. Đó chính là nỗi đau thầm lặng nhất mà tập truyện chạm đến. Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh lục bình xuất hiện nhiều đến vậy. Lục bình trôi nổi, lúc mắc cạn giữa bùn, lúc lại bị nước cuốn đi, giống hệt những nhân vật của Tim Nguyễn: người Việt kiều trở về, người trong nước gặp lại người cũ, những mối tình muộn màng giữa hai miền, giữa hai thế hệ. Chúng kịch liệt, bi tráng nhưng ngầm ẩn, và bên ngoài chỉ thấy lặng lẽ trôi, đôi khi mắc lại một bờ, rồi lại tiếp tục hành trình. Và chính sự lặng lẽ ấy làm nên sức nặng của tập sách. Trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam đương đại – đặc biệt là mảng sáng tác đăng tải trên các group mạng xã hội – văn chương; Tim Nguyễn đã nổi lên như một tiếng nói riêng biệt, mang hơi thở của người Việt tha hương hướng về nguồn cội, đồng thời lại day dứt với những khoảng trống không thể lấp đầy. Tập “Hai đầu nỗi nhớ” là một bức tranh đa tầng về nỗi nhớ, sự lạc lõng, tình yêu muộn màng và những vết thương gia đình. Tác giả không chọn một bên để ca ngợi, cũng không chọn một bên để trách móc. Các nhân vật chính và hoàn cảnh sống của họ đều trong trạng thái “lơ lửng giữa hai dòng nước”. Đó cũng là nỗi đau lớn nhất của một thế hệ Việt kiều: không hoàn toàn là người Việt nữa, nhưng cũng không bao giờ trở thành người bản xứ. Đó là nỗi đau kép, lặng lẽ, dai dẳng. Tim Nguyễn không viết để “kể chuyện lớn”. Ông kể những điều dường như nhỏ bé: một ly cà phê chưa kịp trả - “Cà phê… mai trả”, một lá thư mẹ viết bằng chữ run rẩy - “Là bao nhiêu năm trời của Má?”, một gói bánh in mẹ gửi cho con gái trước khi mất, hay cái cách ông già bảy mươi đỏ mặt khi đi hẹn qua Facebook - “Hồi xuân”. Những chi tiết đời thường ấy, khi được đặt đúng bối cảnh, trở nên day dứt lạ thường. Ông có cái nhìn của người xa xứ, lâu năm sống sâu trong một nền văn minh khác: nhẹ nhàng, đôi chỗ hài hước tự trào, luôn ẩn chứa một sự phê phán dịu dàng với chính bản thân và với cả hai bờ. Chẳng hạn, trong “Lục bình mắc cạn”, anh Sáu Be về làng với kính râm, áo thun in chữ Mỹ, nói tiếng Anh lơ lớ để “thể hiện”. Không lên án gay gắt, chỉ khẽ chạm: “Khán giả duy nhất tin vào vai diễn của anh… có lẽ chỉ là chính anh”. Hay trong “Hồi xuân”, ông già chuẩn bị đi hẹn, xịt nước hoa nhưng đeo đồng hồ đo nhịp tim “phòng khi gặp bà mà tim… ngừng đập”. Cái hài hước ấy không để cười lớn, mà đọc để mỉm cười rồi chợt xót: ở tuổi nào, người ta cũng vẫn muốn được yêu, được thuộc về một ai đó. Tim Nguyễn chọn cách viết và đề tài gần gũi, đời thường. Ông viết như đang ngồi kể chuyện với bà con trong quán cà phê ven sông. Ông ít bi kịch hóa, nhiều chữa lành; ít day dứt triết lý, nhiều chi tiết ấm áp và đôi khi hài hước nhẹ nhàng. Ông không viết để “làm văn chương”, ông viết để an ủi những người từng lạc lõng như chính mình. Đó là lý do để những trang viết của ông dễ chạm đến trái tim người đọc, đặc biệt là những ai đã hoặc đang sống xa quê. Tập truyện ẩn tàng ba mạch văn mạch đời, cảm xúc rõ nhưng hòa quyện tự nhiên. Mạch thứ nhất mô tả đời sống người Việt ở Canada với nhiều nỗi cô đơn thầm lặng. Đây là mạch văn buồn nhất, đậm chất tự sự cá nhân. Các truyện như “Những chiếc lá cuối mùa”, “Kiếp người lưu lạc”, “Hồi xuân”, “Hoa Quỳnh mùa đông” khắc họa nỗi cô đơn của người già Việt ở xứ lạnh: trợ cấp đủ sống nhưng không đủ ấm lòng, con cái bận rộn, cộng đồng thưa thớt, ký ức quê nhà trở thành thứ duy nhất giữ họ sống. Cái chết nơi đây thường lặng lẽ, không nhang khói, không giỗ chạp – chỉ có tuyết phủ và tiếng chuông nhà thờ xa xa. Ám ảnh chi tiết chai dầu gió xanh và chiếc khăn choàng tím của người đã khuất trong câu chuyện về ông già sống một mình, vợ mất, con cái bận rộn. Mạch thứ hai bao gồm những câu chuyện (hay tình tiết) mô tả mối liên hệ với quê nhà. Đây là mảng phong phú và cảm động nhất, ấm áp và day dứt hơn. Mạch văn này có nhiều truyện ngắn với tình yêu nở muộn, vượt định kiến vùng miền, giai cấp, tuổi tác, hoàn cảnh (“Chỉ cần còn có nhau”, “Bông hoa nở muộn”, “Thương nhau chết đi sống lại”, “Duyên muộn”, “Tiếng trống tàn canh”... Tình yêu ở đây không ồn ào, không thề non hẹn biển, mà lớn lên từ những điều nhỏ bé, tinh tế và sự kiên nhẫn chờ đợi. Kết thúc thường là “happy ending/ chữa lành”, nhưng không thiếu những truyện đắng chát. Mạch thứ ba phản ánh đời sống ở quê hương. Mạch văn này chạm mạnh vào những góc khuất gia đình: nỗi ân hận, lòng hiếu thảo muộn màng, bí mật cha con, giọt máu chia phôi, sự hy sinh thầm lặng của người mẹ… Mảng đề tài này mang tính hiện thực sâu sắc hơn: “Là bao nhiêu năm trời của Má?”, “Người mà ba mang ơn”, “Góc khuất”, “Định mệnh”. Tác giả không né tránh những góc khuất: đa thê, con rơi, bỏ đi vô trách nhiệm, nghèo khó, định kiến… nhưng luôn kết thúc bằng sự tha thứ, chấp nhận, hoặc ít nhất là sự thấu hiểu. Dù ở mạch văn nào, tác giả Tim Nguyễn cũng khéo dùng những hình ảnh quen thuộc của quê hương để gợi về những nỗi niềm: lục bình trôi nổi hay mắc cạn như phận người, tình yêu thấm từ từ như cơn mưa miền Trung, nắng miền Tây vàng đục như nỗi day dứt, hoa bưởi thơm trong hộp gỗ mít cũ kỹ đầy kỷ niệm… Những hình ảnh ấy không cầu kỳ, nhưng rất gần gũi, rất thật. Tim Nguyễn sở hữu một thứ ngôn ngữ riêng, giàu hình ảnh thiên nhiên miền Nam Việt. Ngôn ngữ của ông gần gũi với nghệ thuật truyền thống, đan xen với những câu thoại đời thường, chân chất, đôi chỗ pha chút hài hước miền Tây. Ông giỏi tạo khoảng lặng – những đoạn im lặng giữa hai nhân vật, những khoảng lặng trong câu chuyện, những khoảng lặng của nỗi nhớ - để cảm xúc thấm sâu hơn. “Hai đầu nỗi nhớ” không có những xung đột vĩ mô hay bi kịch dồn dập. Xung đột ở đây là những thứ rất đời: định kiến gia đình, khoảng cách tuổi tác, sự khác biệt vùng miền, nỗi sợ “mang tiếng”, và trên hết là nỗi sợ không còn chỗ đứng ở cả hai bờ. Nhưng chính vì thế mà tập truyện ngắn của Tim Nguyễn gần với người đọc hơn. Nó thầm lặng xoáy vào ta, khiến ta chợt lặng đi, chợt thấy cay nơi sống mũi. Là người yêu văn chương nhưng không theo đuổi danh tiếng văn chương, Tim Nguyễn đã làm được điều quý giá: ông ghi lại được tiếng lòng của những người đã đi xa quá lâu. Vì chiến tranh, vì cơm áo, vì giấc mơ đổi đời… Phía sau những trang sách, là một lời thì thầm chân thành gửi đến những ai từng lạc lõng, từng day dứt, từng lặng lẽ mang nỗi nhớ hai bờ. Với người đọc trẻ, đây là cơ hội để hiểu hơn về cha mẹ, ông bà – những người từng lặng lẽ đớn đau bởi mất mát, chia ly, tha hương. Với người lớn tuổi, đây là lời an ủi: dù đời có lạc lõng đến đâu, vẫn còn những câu chuyện, những nỗi nhớ, những tình người để bấu víu. Một tập truyện không cầu kỳ, nhưng rất thật. Và vì rất thật, nên dễ chạm. Gấp sách lại, không chỉ thấy thương các nhân vật, mà còn thấy thương cả những phương trời, những khoảng lặng. Và thương cả cho đời. Như thương một tiếng gọi vơi đầy, từ bờ bên này sang bờ bên ấy. Hà Nội 17/3/2026 23-24/5/2026 www.tienphong.vn 9 LÊ ANH HOÀI ĐỌC “HAI ĐẦU NỖI NHỚ”, TA DỄ CÓ CẢM GIÁC NHƯ ĐANG NGỒI TRÊN MỘT CHIẾC GHE TAM BẢN GIỮA SÔNG HẬU LÚC NƯỚC RÒNG: DÒNG CHẢY ÊM ĐỀM, NHƯNG DƯỚI LÒNG SÔNG VẪN CÓ NHỮNG XOÁY NGẦM KHÔNG NGỪNG KÉO NGƯỜI TA VỀ NHỮNG MIỀN KÝ ỨC. Tiếng gọi từ "Hai đầu nỗi nhớ" Quảng cáo THÔNG BÁO MẤT GIẤY TỜ Vào 10/04/2026, trong quá trình bảo quản và lưu giữ đăng kiểm, Công ty TNHH MTV DƯƠNG THÁI HỌC có làm mất một số giấy tờ sau: 01 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng của xe máy nhãn hiệu HONDA JK036 Vision, số khung: RLHK0362SZ016374, Số máy: JK03E - 5021323, Màu sắc: màu trắng đen. Nếu ai nhặt được, xin vui lòng liên hệ ông LÊ VĂN HỌC, Giám đốc công ty, số điện thoại 0975 160 179 Công ty xin cảm ơn và hậu tạ. THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI BỊ YÊU CẦU TUYÊN BỐ MẤT TÍCH TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HOÁ thông báo tìm kiếm bà Tống Thị Sửu - Sinh năm: 1971. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn Xóm Sắn, xã Vân Du, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt tại nơi cư trú từ năm 2001 đến nay. Khi biết được thông báo này, đề nghị bà Tống Thị Sửu liên hệ trực tiếp với Toà án nhân dân theo địa chỉ để giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc có ai biết được tin tức về bà Tống Thị Sửu thì thông báo cho Toà án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hoá theo địa chỉ: Số 32 đường Trịnh Khả, khu phố Giáng, xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, người yêu cầu ông Tống Văn Long, sinh năm: 1969, địa chỉ: Thôn Xóm Sắn, xã Vân Du, tỉnh Thanh Hoá, ĐT: 033.742.3780. VĂN HÓA “Hai đầu nỗi nhớ” và tác giả Tim Nguyễn
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==