Báo Tiền Phong số 142

5 n Thứ Sáu n Ngày 22/5/2026 KINH TẾ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU THẾ NÀO? Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang chứng kiến sự đảo chiều đáng chú ý khi nhóm ngân hàng dần đánh mất vị thế áp đảo từng duy trì suốt năm 2025. Thống kê của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) cho thấy, trong tháng 4/2026, nhiều ngân hàng phải chấp nhận mức lãi suất phát hành trái phiếu rất cao để huy động được vốn. Cụ thể, Ngân hàng MSB, Bac A Bank và Techcombank phát hành trái phiếu với lãi suất dao động 8,4 - 8,9%/năm. Trong khi cùng kỳ năm ngoái, các ngân hàng này chỉ phải trả mức lãi khoảng 5,2 - 5,3%/năm. Mặc dù lãi suất trái phiếu ngân hàng tăng nhưng vẫn không hấp dẫn nhà đầu tư. Theo VBMA, nếu trong quý I/2025, toàn bộ lượng trái phiếu phát hành đều đến từ lĩnh vực ngân hàng thì sang quý I/2026, tỷ trọng của nhóm này giảm xuống chỉ còn khoảng 30%. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp bất động sản vươn lên dẫn đầu với 60% lượng phát hành toàn thị trường. Với mức lãi suất phát hành trái phiếu ngân hàng hiện nay đã tiệm cận mức lãi suất cho vay, đồng nghĩa biên lợi nhuận giữa đầu vào và đầu ra của ngân hàng bị thu hẹp đáng kể. Nếu ngân hàng huy động trái phiếu với mức lãi gần 9%/năm nhưng cho vay chỉ quanh 10%/ năm, dư địa lợi nhuận sau khi trừ chi phí vận hành, dự phòng rủi ro và chi phí vốn gần như không còn nhiều. Huy động vốn bằng gửi tiết kiệm của các ngân hàng cũng sụt giảm. Theo thống kê quý I/2026 từ 27 ngân hàng thương mại niêm yết, tổng tiền gửi khách hàng đạt hơn 12,88 triệu tỷ đồng, tăng chưa tới 1% so với cuối năm ngoái. Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong cùng giai đoạn đạt khoảng 3,7%. Như vậy, cả việc huy động vốn từ gửi tiết kiệm và kênh trái phiếu ngân hàng cũng đang gặp khó. Điều này cho thấy áp lực huy động vốn không còn mang tính cục bộ mà đã lan rộng ra rất nhiều ngân hàng. KHÓ GIẢM SÂU LÃI SUẤT Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TPHCM - cho rằng, hệ thống ngân hàng hiện đang cùng lúc chịu nhiều sức ép về thanh khoản, huy động vốn và nhu cầu tín dụng tăng cao của nền kinh tế. Theo ông Linh, áp lực đầu tiên đến từ lạm phát. Khi lạm phát tăng, lãi suất tiền gửi bắt buộc phải duy trì ở mức thực dương để đảm bảo sức hấp dẫn với người gửi tiền. “Lãi suất huy động lâu nay luôn phải cao hơn mức lạm phát thì mới hút được dòng tiền gửi”, ông Linh nhận định. Ngoài lạm phát, khoảng chênh lệch giữa huy động và cho vay cũng đang tạo áp lực lớn lên các ngân hàng. Trong bối cảnh cầu tín dụng phục hồi mạnh,nhiều nhà băng phải tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi, từ đó kéo theo áp lực lên lãi suất cho vay. Theo vị chuyên gia này, bài toán thanh khoản hiện nay cũng rất đáng lưu ý. Ngân hàng không chỉ cần vốn cho vay mà còn phải chuẩn bị nguồn tiền lớn để đáp ứng nhu cầu chi trả các khoản tiết kiệm đến hạn, đảm bảo khả năng thanh toán và duy trì hoạt động hệ thống. “Cầu thanh khoản lớn hơn cung thì lãi suất chắc chắn chịu tác động”, ông Linh nói. Đáng chú ý, dòng tiền gửi vào ngân hàng hiện có dấu hiệu chậm lại khi nhiều kênh đầu tư khác đang hấp dẫn hơn. Dù chưa thể khẳng định dòng vốn dịch chuyển mạnh sang một kênh cụ thể, nhưng áp lực cạnh tranh giữ chân người gửi tiền đang ngày càng rõ nét. TS. Linh cho rằng, hiện sức ép lãi suất mới chủ yếu tập trung ở nhóm ngân hàng nhỏ, song khả năng lan rộng còn phụ thuộc vào năng lực điều phối thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước. “Nếu điều phối thanh khoản linh hoạt thì mặt bằng lãi suất có thể ổn định hơn”, ông Linh đánh giá. Trong dài hạn, ông Linh cho rằng, Việt Nam cần giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Theo ông, hệ thống tài chính muốn phát triển bền vững phải dựa trên sự cân bằng giữa vốn gián tiếp qua ngân hàng và vốn trực tiếp qua thị trường vốn. Điều này đồng nghĩa với việc cần thúc đẩy mạnh hơn thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp nhằm chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng. Theo ông Linh, để thị trường vốn phát triển thực chất, cần đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường chứng khoán và tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đặc biệt, thị trường trái phiếu hiện nay vẫn còn nhiều điểm nghẽn khi thanh khoản thấp, giao dịch thứ cấp kém sôi động... Về xu hướng lãi suất thời gian tới, vị chuyên gia cho rằng khả năng giảm sâu là rất khó khi áp lực lạm phát toàn cầu vẫn lớn, trong khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất cao. “Trong bối cảnh hiện nay, giữ ổn định mặt bằng lãi suất đã là thành công”, ông Linh nhấn mạnh. NGỌC MAI Việc nhiều ngân hàng phải phát hành trái phiếu với lãi suất gần chạm ngưỡng lãi vay cho thấy áp lực huy động vốn đang gia tăng mạnh. Khi chi phí đầu vào liên tục tăng, dư địa nâng lãi suất cho vay hạn chế, đa số ngân hàng gặp khó trong xoay xở đảm bảo nguồn vốn. Xoay xở nguồn vốn CHUYỆN HÔM NAY Đây không chỉ là áp lực mang tính chu kỳ mà còn phản ánh yêu cầu tái cấu trúc hệ thống dẫn vốn của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư, hạ tầng, sản xuất và tiêu dùng ngày càng lớn, hệ thống ngân hàng vẫn đang phải đảm nhận vai trò cung ứng vốn chủ lực. Để mở rộng nguồn lực, nhiều ngân hàng thời gian qua đã chủ động đẩy mạnh các kênh huy động từ tiền gửi truyền thống, phát hành trái phiếu, tăng vốn điều lệ đến huy động nguồn vốn quốc tế... Tuy nhiên, việc huy động qua các kênh này hiện cũng đối mặt nhiều khó khăn khi chi phí tăng, yêu cầu minh bạch cao hơn và tâm lý thị trường trở nên thận trọng sau các biến động của thị trường tài chính. Trong khi mặt bằng lãi suất đang được định hướng duy trì ổn định, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dư địa để tăng mạnh lãi suất huy động không còn nhiều. Điều này đặt hệ thống ngân hàng vào bài toán cân bằng rất tinh tế. Nếu lãi suất huy động tăng cao, để thu hút dòng tiền, chi phí vốn sẽ gia tăng và gây áp lực lên lãi suất cho vay, từ đó ảnh hưởng tới khả năng phục hồi của doanh nghiệp và nền kinh tế. Trường hợp không mở rộng được nguồn vốn, dư địa tăng trưởng tín dụng cũng sẽ bị thu hẹp. Việc tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến tăng vốn cho nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chi phối bằng Thông tư 08 điều chỉnh cách tính tỷ lệ cho vay trên huy động (cho phép đưa trở lại 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số tính chỉ số LDR) được xem là bước đi quan trọng nhằm củng cố năng lực tài chính và tạo thêm dư địa cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, với nhiều ngân hàng thương mại tư nhân, áp lực huy động vốn vẫn còn hiện hữu khi phải đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn ngày càng cao, duy trì thanh khoản và bảo đảm hiệu quả hoạt động trong môi trường cạnh tranh mạnh hơn về dòng tiền. Trong thời gian tới, xu hướng cạnh tranh của ngành ngân hàng sẽ không còn là cuộc đua đơn thuần về lãi suất huy động mà sẽ chuyển sang cạnh tranh về năng lực quản trị vốn, chất lượng hệ sinh thái tài chính và khả năng tạo nguồn vốn chi phí thấp thông qua ngân hàng số, thanh toán và các dịch vụ tài chính tích hợp. Trong dài hạn, vấn đề đặt ra không chỉ là câu chuyện của riêng ngành ngân hàng mà còn là yêu cầu phát triển cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Một nền kinh tế quy mô lớn khó có thể phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cho nhu cầu vốn trung và dài hạn. Do đó, việc phát triển sâu hơn thị trường chứng khoán và thị trường vốn sẽ mang ý nghĩa chiến lược, giúp hình thành các kênh huy động vốn trung - dài hạn hiệu quả hơn cho doanh nghiệp, qua đó giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Khi doanh nghiệp có thể huy động vốn trực tiếp thông qua thị trường chứng khoán, trái phiếu và các định chế đầu tư dài hạn, hệ thống tài chính sẽ trở nên cân bằng hơn, nâng cao khả năng chống chịu trước biến động và tạo nền tảng bền vững hơn cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Q.H Năng lực quản trị vốn TIẾP THEO TRANG 1 LÃI SUẤT TRÁI PHIẾU NGÂN HÀNG TĂNG: TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TPHCM Theo TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TPHCM, Việt Nam cần giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Hệ thống tài chính muốn phát triển bền vững phải dựa trên sự cân bằng giữa vốn gián tiếp qua ngân hàng và vốn trực tiếp qua thị trường vốn. Điều này đồng nghĩa với việc cần thúc đẩy mạnh hơn thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp nhằm chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng. Ngân hàng gặp khó trong việc huy động vốn trên kênh trái phiếu

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==