Nhập ngũ vào Tiểu đoàn 161, Sư đoàn 304B rồi ông chuyển qua nhiều đơn vị của Sư đoàn 473, từ đơn vị xe máy sang đường thủy…, ông đi hết Quảng Trị đến Tây Nguyên. Nhưng ông luôn nói: cả cuộc đời binh nghiệp gắn với Khe Sanh, làm quân lực như phần ký ức ám ảnh nhất. Công việc chính là quản lý quân số đơn vị nên hỏi đến đồng chí Lương Bá Thích người Yên Bái hẳn ai cũng biết. Người thủ trưởng từng trực tiếp chôn cất, làm thủ tục cho người hi sinh và vẽ sơ đồ mộ chí cho gần 350 đồng đội của mình trong 8 năm từ 1968 đến 1976. ÁM ẢNH BI THƯƠNG Như ông nói, làm quân lực, quản lý quân số, nhưng thực chất là giữ người - cả khi họ còn sống lẫn khi đã nằm xuống. Người từng chỉ huy anh em bò qua hàng rào điện tử McNamara, công trình được đặt tên bởi chính bộ trưởng quốc phòng Mỹ, tiêu tốn hơn 19 tỷ USD mà người Mỹ tự hào đến con chuột cũng không lọt qua được. Có mặt trong giai đoạn ác liệt, trên chiến trường thảm khốc nhất. “Khó mà không ám ảnh. Nhưng cũng chính vì thế mà mình phải sống”, ông tâm sự. Tôi gặp ông lần đầu khi tham gia Hội Bộ đội Trường Sơn, mà tôi đóng vai trò là người trẻ quan sát. Ông nói dứt khoát kiểu quân lệnh và cách mở đầu câu chuyện rất quen thuộc “Bối cảnh, hoàn cảnh lúc đó phải thế”. Đó cũng là cách ông lý giải cho những chuyện cười ra nước mắt thời chiến mà kể không bao giờ hết. Ví như chuyện bộ đội đường sông các ông quẫy tay là có cá nhưng vẫn đói cá vì không có muối. Mỗi ngày chuyển hàng trăm thùng phuy gạo nhưng anh em chỉ chia nhau một nắm cơm mỗi ngày, bởi hàng hóa, lương thực còn phải tập trung cho chiến trường miền Nam, nếu có được một chút chế độ cũng muốn được chia sẻ với người dân, những người Vân Kiều, Cơtu tự nguyện gùi gạo, thồ hàng vượt hàng chục kilomet giúp bộ đội. Ông còn nhớ rất rõ, có lần, phụ cấp hàm tá được phát một chén muối trắng, ông vừa nói vừa giơ cốc nước đang uống lên minh họa, vậy mà khi đem đổi cho dân được hẳn 70-80kg thịt lợn hơi. Giữa đông người, ông kể những câu chuyện bi thương một cách hài hước, lạc quan. Giờ đây, ngồi với tôi, sau bao nhiêu năm, ông lại mở chuyện bằng câu nói ấy. “Thời nó thế”, khi tôi vô tình biết được bản thân ông bị chất độc màu da cam, con trai duy nhất của ông cũng bị di chứng, ngay từ khi sinh ra cả người đã sùi bọt trắng và không có đường ruột, cháu ngoại sinh ra không có hậu môn, nhưng ông không đi làm chế độ. Nhiều người đã ngỏ ý giúp ông hoàn thiện hồ sơ nhưng ông luôn nói: “Trải qua sinh tử, mình còn sống được để trở về đã là một may mắn lớn. Tôi có vợ, có 3 đứa con, 8 đứa cháu và đã có chắt. Còn nhiều đồng đội bây giờ còn nằm lại đâu đó trong lòng đất, chưa được về quê hương”. Chiến tranh gắn với chết chóc, thương vong, đặc biệt là đối với người làm quân lực. Tiểu đoàn 161 của ông có hẳn một nghĩa trang Cù Vai phía Tây Vĩnh Linh cạnh sông Sê Pôn để chôn cất đồng chí hi sinh. Có khi mộ vừa chôn xong B52 đã cày xới. Anh em có quay lại đắp, đánh dấu nhưng rốt cuộc tất cả vẫn chỉ là thủ tục mang nhiều tính tượng trưng, bởi vì “có còn gì nữa đâu”. CHUYỆN TÌNH THỜI CHIẾN Bên ấm trà đã nguội, ông nói ngắt quãng vì bị biến chứng dây thanh quản đến khi bà, người vợ đã đi cùng ông 50 năm có lẻ bước ra, chêm nước, gợi cho ông câu chuyện tình mang đặc trưng thời chiến của chính ông bà. Ông kể, khi đoàn xe của ông từ vùng trong ra vùng ngoài ngang qua đoạn bị địch ném bom, ngồi trong xe nhìn thấy cánh tay, cẳng chân bị hất tung trong không trung, ông cho xe dừng lại, cùng anh em gom từng mảnh thân thể còn lại, liên lạc với đơn vị quản lý để chôn cất. Chiều đối diện là chiếc xe của đoàn chiếu phim đang dừng lại vì trúng bom. Đó cũng là lần đầu tiên ông gặp bà - cô bộ đội chiếu phim xinh xắn. Vì nhiệm vụ, ông chỉ chào hỏi qua rồi tiếp tục hành trình. Đến lúc quay về thì chính cô bộ đội đó ở lại đơn vị dưỡng thương và phục vụ nhiệm vụ chiếu bóng cho Tiểu đoàn 161. Vốn cảm mến nhau, lại được hai Quân đoàn ra sức mai mối, kết thông gia, câu chuyện tình yêu của ông bà gắn bó tự nhiên như thể “người với người sống để yêu nhau”. Khi chiến tranh kết thúc, ông ở lại phục vụ quân đội, bà chuyển ngành ra Bắc học sửa chữa ô tô, tưởng được gần mà một lần nữa họ xa cách. Năm năm từ năm 1972 đến dịp Tết năm 1977, đại diện gia đình gồm mẹ và chị gái ông từ Yên Bái mới sắp xếp được buổi gặp mặt ngay tại ga Quán Bàu, Nghi Lộc, Nghệ An, để họ chính thức làm vợ chồng. Cũng tại ga Quán Bàu, bà tiễn chồng vào Tây Nguyên, rồi theo mẹ và chị chồng ra Yên Bái. Tháng 4/1968, chưa tròn 20 tuổi, ông được bổ sung vào sư đoàn 304B, sau 2 tháng huấn luyện ở Na Rì (Bắc Thái) thì được một chuyến xe lửa thả ở dốc Bò Lan, Thanh Hóa, đi bộ vào đến Lạc Thiện, ở suốt các vùng của Đức Thọ suốt 15 ngày để tập đánh Khe Sanh trước khi vào trận địa thực chiến. Ra khỏi cuộc chiến khốc liệt của 81 ngày đêm nơi “chảo bom” Thành cổ Quảng Trị, ông mang theo 3 giấy chứng thương. Ba lần dưỡng thương trong bệnh viện mà thực chất là hang đá lạnh là cảm giác khát thèm nhìn thấy một dấu hiệu của sự sống. Ông cũng nói rằng, trong phim về cuộc chiến Thành cổ có chim, có rắn nhưng trên thực tế thì làm gì còn, ruồi, muỗi cũng không thể thoát khỏi lửa đạn. Trên bàn vừa tiếp khách vừa làm việc của ông luôn có chiếc bút và con dao nhỏ, mỗi lần ông chạm tay vào đó, giọng lại chậm thêm một nhịp như thể đang chạm vào điều nuối tiếc nhất trong cuộc đời. Giá như ngày xưa không vì lý do đảm bảo bí mật, ông có thể ghi chép lại thông tin liệt sĩ, hoặc nếu bí mật thì chúng ta nghĩ ra cách quy ước, những ký hiệu được khắc chạm để thông tin về địa chỉ, quê quán, chứ không phải độc một dòng chữ “hi sinh ở Mặt trận phía Nam” ở trên tất cả mộ chí, thì bây giờ bao nhiêu anh em đồng đội đã có thể trở về bên gia đình, người thân. Giá như, ngay khi chiến tranh hoàn toàn kết thúc, ông có thể gác lại nỗi lo cơm áo để đi tìm quy tập hài cốt liệt sĩ… Chiếc bút trên bàn đã giúp ông làm một việc đều đặn vào mỗi buổi sáng là ghi và vẽ lại sơ đồ mộ chí đồng đội theo trí nhớ. Nhưng bây giờ, đôi bàn tay run run và những mảnh ký ức mờ dần. “MẶT TRẬN NÀO CŨNG CHIẾN ĐẤU” Sau 23 năm trong quân ngũ, năm 1991, ông nghỉ công tác về địa phương. Nói đến đây, ông quay sang nhìn bà, người đồng chí, đồng đội trong hơn 50 năm qua cùng ông chia sẻ những khó khăn của một gia đình vợ Bắc chồng Nam, một mình gồng gánh nuôi ba con nhỏ. Ông thương cho người phụ nữ vì ông mà xa bố mẹ, anh em, họ mạc để đi xa hơn 500km làm dâu. Ông xót xa khi kể về người vợ trẻ cùng các con ôm nhau tránh mưa trong ngôi nhà dột nát, ẩm thấp của khu tập thể xuống cấp của chi cục Thủy sản Yên Bái mà cả nội và ngoại đều khó khăn, neo người không thể đỡ dần mà ông thì cách nghìn cây số. Màn hình điện thoại phát sáng, đây là khoảng thời gian, con cháu trong gia đình thường gọi điện thoại nhóm. Ông vừa nói, vừa lướt tay lên điện thoại. Hôm nay, đặc biệt hơn, đứa chắt ngoại của ông sinh nhật tròn một tuổi cũng là lúc mẹ cháu được chính thức được tiếp nhận làm giảng viên Trường Đại học Ngoại thương. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên với cách dùng điện thoại thông minh, mạng xã hội, ông cười: “Đây là xu thế, mình không nằm ngoài được; vốn là lính nên tôi xác định, mặt trận nào cũng phải chiến đấu, phải học cho bằng được”. Tất nhiên là được con cháu nhiệt tình ủng hộ nên ông sử dụng khá thành thạo. Ông cũng là đảng viên gương mẫu trong sinh hoạt chi bộ trên sổ tay đảng viên điện tử. Không chỉ khi dự họp trực tiếp mà ngay những ngày nằm viện, ông cũng tích cực tham gia và cho ý kiến vào các nội dung đang triển khai; ý kiến ông đưa ra không chỉ là định hướng thảo luận mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tiên phong của người đảng viên gần 60 năm tuổi Đảng. Ông cho rằng, mình phải cập nhật xu thế của xã hội để không cố chấp với cách làm cũ, không lấy tư duy kinh nghiệm áp đặt lên thế hệ mới cản trở sự phát triển. n 9-10/5/2026 www.tienphong.vn KÝ SỰ 7 VỪA TRẢI QUA CƠN THẬP TỬ NHẤT SINH, NGƯỜI LÍNH GIÀ GẦY CÒM THỈNH THOẢNG PHẢI DỪNG LẠI THỞ DỐC GIỮA CUỘC NÓI CHUYỆN. “TÔI BIẾT, TÔI CHƯA THỂ CHẾT. LÚC NÀO BÊN CẠNH TÔI CŨNG NHƯ CÓ TIẾNG ĐỒNG ĐỘI… NHẮC PHẢI SỐNG, PHẢI RA BẮC, PHẢI NÓI VỚI BỐ MẸ CHỜ HỌ TRỞ VỀ”. Người canh giữ DƯƠNG THU PHƯƠNG Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) năm 2020, cả nước còn hơn 300.000 người khi sinh ra có tên, có họ nhưng khi nằm xuống trên bia mộ chỉ khắc chữ “Liệt sỹ vô danh”, “Chưa biết tên”, “Mộ liệt sỹ chưa xác định được thông tin”… ẢNH: TTXVN Tác giả bài viết và cựu chiến binh Lương Bá Thích Chuyện đã nhiều, ngày đã muộn, tôi xin phép ra về. Bước chậm ra cổng, tay ông vẫn đặt trong tay tôi nặng trĩu sức nặng của một người đang mang theo quá nhiều tâm sự, ký ức về những người khác. Ông lặp đi lặp lại lời cảm ơn, cảm ơn vì đã ghi lại để giữ cho những câu chuyện ấy không bị rơi vào quên lãng. Tiếng bản lề sắt kêu khẽ, ở phía sau, một người lính già, một đảng viên kiên trung gần 60 năm tuổi đảng vẫn đang lặng lẽ canh giữ ký ức của cả một thời.
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==