Báo Tiền Phong số 129-130

Những chiều muộn tháng Năm ở Hà Nội xưa cũ. Đã có tiếng ve. Đã đỏ hoe màu phượng. Và một ngày dài đang hạ nhiệt dần trên các bức tường cũ. Bóng tối phủ dần xuống thành phố đôn hậu mà vất vả. Nhịp sống bỗng chậm rãi hẳn lại. Một, rồi nhiều chiếc ghế được mang ra ngoài cửa. Những chiếc ghế thấp, bé, bạc màu thời gian. Ghế đẩu còn là sang (giờ nhiều người không còn biết từ “đẩu” này nữa), những chiếc ghế không tựa không tay vịn nhưng còn cho phép ngồi đúng dáng ngồi. Nhiều nhất là những chiếc ghế gỗ nhỏ chỉ cao khoảng hơn chục phân, đóng vội từ ba miếng gỗ tạp. Cầm rất tiện. Nhưng ngồi bất tiện, vì chỉ hơn ngồi xổm ở chỗ kê rất dè xẻn. Có chiếc ghế mây cũ sờn chằng buộc bằng dây điện. Có chiếc ghế dài như được lấy từ một lớp học. Những chiếc ghế cập kênh. Cập kênh giờ cũng là từ cổ mất rồi. Lúc ấy khái niệm ghế công cộng hạn chế ở ghế đá công viên, ghế ở bến tàu bến xe cũng hiếm hoi. Đi họp tổ dân phố phải tự xách theo ghế, “mang đến lại mang về”. Nhưng ở đây không có cuộc họp chính thức nào cả. Ăn bữa tối kham khổ thời tem phiếu xong. Người ta mang ghế ra trước cửa nhà, dưới gốc cây, bên hành lang tập thể cao tầng hay nơi đầu cầu thang tối. Người ta ngồi đó như một thói quen lâu đời của thành phố. Ký ức về Hà Nội bắt đầu từ những chiếc ghế như thế. Cậu bé sống trong một khu tập thể ở Lăng ông Hoàng, con hồ dài bây giờ là phố đông đúc sáng đèn thâu đêm. Những dãy nhà tập thể ngày ấy thấp và cũ, tường vàng bong vữa, những lối đi hẹp và tối. Nhưng giữa các khu nhà là một khoảnh sân chung. Ở giữa sân mọc lên một cây roi già. Mùa hè, cây roi là cái ô xanh của cả khu tập thể. Buổi trưa, trẻ con chơi bi dưới gốc cây. Chiều đến, người lớn mang ghế ra ngồi hóng gió. Những chiếc ghế nhỏ đưa người thành từng cụm từng nhóm. Người quạt nan. Người đan len. Người vá áo. Có những bà mẹ vừa trông con vừa nói chuyện cơ quan. Mấy ông giáo với chuyên viên nghiên cứu dở già dở trẻ ngồi tán về bài xã luận vừa đọc trên báo Nhân Dân. Tán lá cây roi rung nhẹ trong gió nóng tháng Năm. Khi ấy, Hà Nội còn nghe rõ tiếng ve. Tiếng ve phủ lên các khu tập thể cũ như một lớp âm thanh mỏng mà dai dẳng. Ve trên cây roi. Ve trên những cây bàng đầu ngõ. Ve ran phía những con phố nhiều cây như Thụy Khuê, Hoàng Hoa Thám. Có những buổi trưa hè, cả thành phố như lịm đi trong tiếng ve và ánh nắng hắt lên từ mặt sân xi măng. Nhớ những đêm mất điện. Những năm tháng ấy, chuyện mất điện ở Hà Nội là một phần của mùa hè. Tivi đang sáng bỗng tắt phụt. Quạt ngừng quay giữa cái nóng oi nồng. Rồi từ các căn hộ, tiếng xôn xao vang lên. Người ta mang ghế ra sân. Sân khu tập thể bỗng như một quảng trường nhỏ. Đám trẻ con thích nhất những tối như thế. Chúng được chạy nhảy đến khuya dưới ánh trăng hoặc ánh đèn dầu leo lét. Người lớn ngồi quây quanh các cụm ghế cao thấp lô nhô. Có người phe phẩy quạt nan. Có ông cởi trần, bởi đơn giản có áo may ô khi đó là trung lưu rồi. Có bà mẹ bế con ngủ trên tay mà tay kia vẫn đập muỗi đều đều trong bóng tối. Rồi chiếc radio bán dẫn được đặt lên một chiếc ghế gỗ. Tiếng của Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên rè rè giữa đêm nóng. Bản tin thời sự. Chương trình ca nhạc. Những giọng đọc quen thuộc mà cả vài thế hệ Hà Nội nằm lòng. Có những năm chiến tranh còn chưa xa. Người lớn ngồi nghe tin tức bằng vẻ trầm ngâm đặc biệt của những con người từng đi qua thiếu thốn và bom đạn. Nhưng lũ trẻ thì chẳng biết gì. Ký ức thời cậu bé, về Hà Nội luôn có những thanh âm ấy. Tiếng ve, tiếng quạt nan của mẹ khi thiu thiu ngủ, tiếng đài hơi khê khê trong đêm mất điện và tiếng ghế rên lên ken két dưới những thân người gầy guộc. Ngày ấy, các khu tập thể cao tầng như Kim Liên, Trung Tự, Nguyễn Công Trứ hay những khu tập thể “mặt đất” như của cậu bé, người ta có một kiểu thân gần mà thành phố hôm nay khó giữ lại được. Người ta sống gần nhau đến mức không thể giấu. Nhà này nấu canh cá, cả hành lang cùng ngửi mùi chua. Trẻ con tự tiện vào nhà hàng xóm. Một chiếc quạt hỏng có thể được chuyền qua vài nhà để sửa. Người lớn biết tiếng chân nhau trên cầu thang, biết nhà nào có con thi đại học, nhà nào vừa nhận thư từ chiến trường gửi về. Buổi chiều tháng Năm, những chiếc ghế ngoài sân tập thể như phần nối dài của mỗi căn nhà. Có những chiếc ghế đã đi qua nhiều thế hệ một gia đình. Không cần lời mời, ai cũng có thể ngồi xuống. Một câu chuyện thời tiết. Một câu chuyện tem phiếu. Một tiếng thở dài vì giá gạo. Một tiếng cười vì chuyện trẻ con nghịch ngợm. Thành phố khi ấy còn nghèo nhưng con người dư thời gian để ở cạnh nhau. Rồi Hà Nội thay đổi. Những khu tập thể cũ bắt đầu xuống cấp. Những khoảng sân bị thu hẹp bởi nhà xe, hàng quán và các công trình mới. Các con phố mở rộng hơn, đông xe hơn. Người ta sống cao lên trong các tòa chung cư mới, phía sau những cánh cửa kín và lớp kính cách âm. Cây roi già trong khu tập thể của cậu bé rồi cũng chết. Không ai còn nhớ chính xác nó chết từ năm nào. Chỉ biết một mùa mưa bão, thân cây bắt đầu mục rỗng rồi bị gãy phải cắt. Rồi gốc cũng bị đào đi. Khoảnh sân trống hoác. Cậu bé trưởng thành, rời khu tập thể đi học, đi làm. Rồi già đi cùng thành phố. *** Một ngày tháng Năm, ông quay lại khoảnh sân cũ. Lúc đó ông mới để ý. Khu tập thể vẫn còn đó nhưng khác xưa nhiều. Những ngôi nhà quanh sân được cơi nới cao thêm. Ban công đua ra sát nhau. Dây điện chằng chịt. Những ô cửa nhôm kính thay cho cửa gỗ cũ. Khoảng sân nhỏ hơn. Ở giữa sân bây giờ là một cây khác. Không ai gọi tên nó nữa. Người già vẫn gọi sân cây roi. Quanh sân, người ta đã đặt những chiếc ghế đá. Ông nhìn thấy mẹ mình ngồi đó. Mẹ lúc này đã rất già, tóc bạc và thưa quá. Bà ngồi cạnh những người phụ nữ cùng thế hệ. Họ, những người từng là các bà mẹ trẻ của khu tập thể năm nào. Họ vẫn nói với nhau những câu chuyện quen thuộc của Hà Nội. Về thời tiết, thuốc men, con cháu, giá thực phẩm, một người hàng xóm vừa mất. Về một người hàng xóm đã chuyển nhà lâu ngày không thấy về thăm. Ông đứng rất lâu. Nhìn. Mọi thứ đều đã đổi khác. Nhưng có điều gì đó vẫn vẹn nguyên. Người Hà Nội vẫn muốn ngồi cạnh nhau khi chiều xuống. Ông nhận ra thành phố càng hiện đại càng khó cho người “ngồi chơi”. Những khoảng trống chung đụng ít dần. Người ta ra khỏi nhà chủ yếu để đi đâu đó có mục đích. Hiếm khi chỉ để ngồi nhìn bóng tối xuống dần. Các khu chung cư mới của Hà Nội hôm nay vẫn có ghế đá, có vườn nhỏ, có khoảng sân đi bộ được thiết kế đẹp hơn nhiều sân tập thể cũ. Nhưng ít còn cảm giác cộng đồng như trước. Người ta xuống sân tập thể dục, đẩy xe nôi, dắt chó đi dạo, rồi lại trở về căn hộ của mình. Những cuộc trò chuyện kéo dài cả buổi tối ít hơn. Ánh sáng điện thoại thay cho những tiếng gọi nhau ngoài hành lang. Có đôi khi, ông đi ngang qua Thụy Khuê hay Hoàng Hoa Thám vào một chiều hè, vẫn thấy một ông già ngồi trên ghế mây trước cửa nhà. Một quán nước kê ghế nhựa dưới gốc cây. Một chiếc radio nhỏ phát bản tin chiều rất khẽ. Tiếng ve vẫn rền lên trên các tán cây cũ như nhiều chục năm trước. Những lúc ấy, ông hiểu rằng ký ức của Hà Nội không nằm trong những công trình to lớn. Và đôi khi, nó phản chiếu trong độ lõm trên mặt một chiếc ghế cũ, nơi nhiều thế hệ đã từng ngồi qua những buổi chiều giống mà khác nhau. Nó đâu đó trong những khoảng ngồi. Những chiếc ghế ngoài trời. Người Hà Nội cũ có tài biến những nơi chật hẹp thành chỗ để sống cùng nhau. Phố phường, tập thể ngày xưa tuy nghèo nhưng có một thứ đời chung rất đậm. Giàu, đẹp, rộng rãi. Tốt quá. Nhưng những khoảng trống để con người tự xích lại nhau, ở đâu? Những chiếc ghế nơi công cộng, ở ngay trên vỉa hè, đầu đường xó chợ; trông lùi xùi bình dân nhưng chúng âm thầm gieo một hạt giống chan hòa, dân chủ. Chốn ấy, khoảng cách nghề nghiệp, chức vụ và tuổi tác thường bị xóa nhòa. Người giao hàng ngồi cạnh ông hưu trí. Sinh viên ngồi cạnh người bán vé số. Một ly trà đá. Một điếu cày chuyền tay. Một câu chuyện thời tiết. Chuyện hòa bình thế giới. Tiếng thở dài về giá cả. Những chủ đề ấy dường như chưa từng cũ đi qua bao thế hệ đô thị. Nhớ tiếng ghế kéo lệt xệt dưới gốc cây roi già năm nào. Nhớ khi điện mất, cả khu nhà chìm trong bóng tối nhưng tiếng người lại gần nhau hơn. Nhớ những chiếc ghế thấp quay mặt ra khoảng sân như quay về phía đời sống chung của phố phường. Thành phố hiện đại. Thêm rộng, thêm dài, thêm cao. Nhưng hình như lúc cuối ngày, khi ánh sáng hòa dần vào bóng tối, người ta vẫn cần một chỗ ngồi, thấp thôi. Gần mặt đất. n 9-10/5/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC Tạp văn của LÊ KHẮC HIỂU MINH HỌA: VŨ XUÂN TIẾN

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==