Tiền Phong số 71

Nguy cơ chậm giải ngân vốn đầu tư công, kéo tụt tăng trưởng hoàn toàn có thể xảy ra nếu các địa phương vẫn duy trì tình trạng hiện nay. GẦN 50% BỘ NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG CHƯA PHÂN BỔ VỐN Năm 2024, tổng kế hoạch vốn đầu tư công Chính phủ giao bộ ngành, cơ quan Trung ương và địa phương tới gần 660.000 tỷ đồng. Nhưng đến gần hết quý 1/2024 vẫn còn 20/44 bộ, cơ quan Trung ương và 38/63 địa phương chưa phân bổ hoặc phân bổ chưa hết kế hoạch vốn được giao. Trong đó, có hơn 6.000 tỷ đồng vốn trong nước chưa được phân bổ. Hơn một nửa vốn của 10 bộ, 9 địa phương dự kiến cho dự án khởi công mới nhưng chưa hoàn thiện thủ tục đầu tư. Hơn 900 tỷ đồng của bộ ngành, địa phương dự kiến bố trí cho các dự án, nhiệm vụ đang trình Chính phủ cho phép kéo dài thời gian bố trí vốn. Đặc biệt, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đến nay chưa gửi quyết định phân bổ vốn. Dù là đơn vị được giao đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công nhưng Bộ Tài chính vẫn còn gần 1.100 tỷ đồng vốn chưa phân bổ do đang hoàn thiện thủ tục phê duyệt dự án, điều chỉnh kế hoạch vốn trung hạn. Theo thống kê, các địa phương chưa phân bổ vốn lớn như: Hưng Yên còn 6.564 tỷ đồng, Bắc Ninh 1.548 tỷ đồng; Long An 1.107 tỷ đồng. TPHCM chưa phân bổ do dự kiến bố trí vốn cho dự án đường sắt đô thị số 1. Tỉnh Cao Bằng báo cáo chưa có dự án để bố trí vốn. Các lý do chậm giải ngân từ nhiều năm nay như vướng mắc đấu thầu, đàm phán hợp đồng, vẫn khiến 1.200 tỷ đồng vốn vay nước ngoài “nằm im” chờ người nhận. Lý giải về việc số địa phương bộ ngành chậm phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công, Bộ Tài chính cho biết, các địa phương báo cáo chậm phân bổ vốn chủ yếu do chưa có quyết định phê duyệt dự án, lũy kế vốn vượt kế hoạch đầu tư công trung hạn. Để đẩy nhanh tốc độ phân bổ vốn, Bộ Tài chính vừa có văn bản gửi một loạt địa phương đề nghị giải quyết dứt điểm giải phóng mặt bằng theo tiến độ, tập trung vào việc xây dựng các khu tái định cư, ổn định cuộc sống người dân. Các địa phương cũng phải khẩn trương xác định đủ nguồn cung vật liệu, phối hợp với các chủ đầu tư, nhà thầu thi công hoàn thành các thủ tục về mỏ vật liệu xây dựng theo cơ chế đặc thù. BÁO ĐỘNG DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM LẠI THIẾU VẬT LIỆU Theo Bộ Tài chính, trong tổng kế hoạch vốn đầu tư công, có 92.900 tỷ đồng bố trí cho dự án quan trọng quốc gia, dự án cao tốc, liên vùng, đường ven biển, dự án trọng điểm. Tuy nhiên, tốc độ giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm vẫn chậm. Điển hình như tốc độ giải phóng mặt bằng của dự án cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 2021-2025, dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu; dự án cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột chậm hơn so với yêu cầu của Chính phủ. Việc di dời đường điện cao thế khó khăn, chậm trễ trong khi dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021- 2025 và dự án cải tổ Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột chưa hoàn thành chuyển mục đích sử dụng rừng, đất rừng, đất lúa. Một trong những vướng mắc đã tồn tại nhiều năm vẫn chưa được giải quyết là tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, nhất là đất đắp, cát, đá. Bộ Tài chính dẫn ví dụ, tại Đồng bằng sông Cửu Long đang cần khoảng 56 triệu m3 cát, gần 7 triệu m3 đá cho dự án cao tốc, chưa kể nhiều công trình, dự án tại địa phương đang cùng triển khai trong khi cơ chế đặc thù khai thác vật liệu xây dựng thông thường vẫn vướng mắc, chưa được tháo gỡ. Theo đại diện tỉnh Đồng Tháp, dù có hướng dẫn của Bộ TN&MT về áp dụng cơ chế đặc thù, tuy nhiên, nhiều nội dung còn chưa rõ hoặc mỗi tỉnh có cách hiểu chưa đồng nhất khi đi vào chi tiết về trình tự thủ tục. Điều này khiến địa phương lúng túng khi cấp phép khai thác. Địa phương cũng mong muốn có sự phối hợp trách nhiệm giữa bộ, ngành địa phương khi áp dụng cơ chế đặc thù. Tình trạng dự án cấp bách nhưng phải chờ cơ chế đã được báo Tiền Phong phản ánh qua việc dự án trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long “lụt” tiến độ vì thiếu cát xây dựng. Nhiều công trình trọng điểm phải dừng thi công, máy móc đắp chiếu vì thiếu vật liệu. Lãnh đạo các địa phương cũng kiến nghị bộ ngành phối hợp thực hiện cơ chế đặc thù để giải quyết tình trạng này. Tuy nhiên, bước sang năm 2024, tình trạng này vẫn tiếp diễn khiến dự án trọng điểm bị chậm phân bổ chi tiết kế hoạch vốn. Trao đổi với PV Tiền Phong, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công là tiền đề, quyết định tốc độ giải ngân vốn đầu tư công. Cùng quy định pháp luật nhưng nhiều địa phương phân bổ vốn sớm, giải ngân vốn tốt. Trong khi, không ít địa phương khác “xí phần” vốn rồi chưa phân bổ chi tiết sẽ tiềm ẩn nguy cơ lãng phí. “Cơ quan chức năng cần xử lý nghiêm tình trạng chậm phân bổ vốn đầu tư công. Việc phân bổ vốn, giải ngân vốn phải gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Tránh tình trạng, vốn đầu tư công “nằm kho” tiềm ẩn nguy cơ lãng phí”, ông Long kiến nghị. NGỌC LINH Gần hết quý 1 nhưng vẫn còn tới 50% bộ ngành, địa phương chưa phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công năm 2024. Vẫn lý do muôn thuở được đưa ra: chậm giải phóng mặt bằng, chờ quyết định thay đổi vốn đầu tư, thiếu vật liệu xây dựng. KINH TẾ 5 n Thứ Hai n Ngày 11/3/2024 Theo Bộ Tài chính, trong 2 tháng đầu năm 2024, cả nước giải ngân gần 60.000 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 8,7%. Vẫn còn 32 bộ, cơ quan trung ương chưa giải ngân đồng vốn đầu tư công nào. Còn gần 50% bộ ngành, địa phương chưa phân bổ chi tiết dự án vốn đầu tư công. Theo dự thảo được Bộ Công Thương xây dựng, cùng với việc được nâng khung điều chỉnh tăng giá trong biên độ 5%, EVN cũng sẽ được thực hiện việc tăng giá điện ở mức trên 5% và 10% sau khi có sự đồng ý của Bộ Công Thương và Thủ tướng Chính phủ. Cụ thể, sau khi Bộ Công Thương và Thủ tướng Chính phủ có ý kiến quyết định tăng giá, thẩm quyền điều chỉnh sẽ giao cho EVN thực hiện. Đây là đề xuất rất mới so với Quyết định 24 trước đây khi chỉ cho EVN thẩm quyền tăng giá điện nếu có biến động chi phí đầu vào ở mức từ 3% đến 5%. Các mức tăng giá trên khung này là do Bộ Công Thương và Thủ tướng quyết định và điều chỉnh tăng. Theo Bộ Công Thương, công thức xác định giá bán lẻ điện bình quân được giữ nguyên, nhưng có điều chỉnh về phương pháp, bổ sung giải thích từ ngữ để làm rõ, phù hợp hơn. Cụ thể, quy định về tổng các chi phí khác chưa được tính vào giá điện sẽ bao gồm cả chênh lệch tỷ giá đánh giá lại chưa được phân bổ vào giá thành sản xuất kinh doanh điện. Phần chênh lệch tỷ giá chưa được phân bổ vào giá điện này sẽ do Bộ Công Thương và Bộ Tài chính quyết định hằng năm. Điểm đáng chú ý nhất của dự thảo mới là khi giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm từ 1% trở lên so với giá bán điện bình quân hiện hành, thì EVN sẽ phải thực hiện giảm giá điện. Với trường hợp tăng giá điện, sẽ giữ nguyên như đề xuất trước đó là tăng giá từ 3% trở lên. “Để điều chỉnh giá điện theo lộ trình, tránh giật cục như chỉ đạo của Thường trực Chính phủ, nhằm giảm thiểu tác động đến kinh tế vĩ mô và khách hàng sử dụng điện, cần rút ngắn chu kỳ điều chỉnh giá. Việc này nhằm đảm bảo chi phí không bị dồn tích quá nhiều có thể gây ảnh hưởng cân bằng tài chính EVN, đưa giá điện thích ứng với sự biến động của thông số đầu vào theo thị trường” Bộ Công Thương đề xuất. PHẠM TUYÊN Dự án đường cao tốc tại Đồng bằng sông Cửu Long chậm tiến độ vì thiếu vật liệu xây dựng (ảnh minh họa) Đề xuất nâng thẩm quyền điều chỉnh giá điện cho EVN Chuyên viên ngành điện lực thay thế công tơ điện ẢNH: NGUYỄN BẰNG Theo nội dung tờ trình gửi Thủ tướng của Bộ Công Thương về dự thảo quyết định thay thế Quyết định 24/2017 của Thủ tướng về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân, thẩm quyền điều chỉnh giá điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được nới rộng hơn lên tới 5%, với chu kỳ điều chỉnh tăng, giảm giá 3 tháng một lần. PHÂN BỔ VỐN ĐẦU TƯ CÔNG: Nguy cơ tốc độ “rùa bò” Theo dự thảo, sẽ rút ngắn thời gian điều chỉnh giá điện từ 6 tháng xuống 3 tháng. Về thẩm quyền điều chỉnh giá điện, EVN được tự quyết định việc giảm hoặc tăng ở mức dưới 5%. Bộ Công Thương sẽ có văn bản chấp thuận để EVN quyết định điều chỉnh khi tăng giá từ 5% đến dưới 10%. Thủ tướng Chính phủ sẽ có ý kiến để EVN quyết định điều chỉnh khi tăng từ 10% trở lên hoặc mức tăng ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==