4 n Thứ Tư n Ngày 28/10/2026 KINH TẾ MIỄN THUẾ LÂU DÀI, GỠ KHÓ THỰC CHẤT Tại phiên thảo luận ở tổ về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân (TPHCM) đề xuất xem xét miễn tất cả các loại thuế liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp nhằm tạo động lực phát triển ngành. Theo ông, cần khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp. Đề xuất này nhận được sự quan tâm, bàn luận của cộng đồng, và đặt ra những vấn đề như nên điều chỉnh những sắc thuế nào, sàng lọc ưu đãi ra sao để vừa hỗ trợ nông dân, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển toàn bộ chuỗi sản xuất và nâng cao giá trị nông sản… Trao đổi với PV Tiền Phong, chuyên gia thuế - TS Nguyễn Ngọc Tú, giảng viên Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cho rằng, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đã được thực hiện trong nhiều năm và trở thành chính sách hỗ trợ quen thuộc. Số thu từ sắc thuế này không lớn so với tổng thu ngân sách nhà nước. Vậy nên, việc xem xét miễn thuế lâu dài, thay vì định kỳ gia hạn sẽ giúp người dân chủ động kế hoạch sản xuất và yên tâm đầu tư. Tuy nhiên, nếu chỉ giảm thuế mà không tháo gỡ những nút thắt trong sản xuất và tiêu thụ, hiệu quả hỗ trợ sẽ khó đạt như mong muốn. Theo đó, cần nhìn chính sách thuế trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ người sản xuất đến hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu. Chuyên gia cũng cho rằng, cơ quan quản lý cần nghiên cứu cơ chế hóa đơn, chứng từ phù hợp với đặc thù của người trực tiếp sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp thu mua có căn cứ chứng minh nguồn gốc hàng hóa và thực hiện quyền khấu trừ, hoàn thuế theo quy định. DOANH NGHIỆP THÔNG SUỐT, NÔNG DÂN CŨNG HƯỞNG LỢI Thực tế cho thấy, chính sách thuế không chỉ tác động đến người trực tiếp sản xuất mà còn ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong chuỗi nông nghiệp. Theo số liệu của Cục Thuế (Bộ Tài chính), 8 tháng đầu năm, số tiền hoàn thuế GTGT đối với nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đạt 17.700 tỷ đồng; nhóm sản phẩm gỗ và từ gỗ đạt hơn 17.400 tỷ đồng. Tổng số tiền hoàn thuế của hai nhóm hàng này vượt 35.000 tỷ đồng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các mặt hàng chủ lực về giá trị hoàn thuế (chỉ xếp sau da giày, dệt may). Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn phản ánh vướng mắc liên quan đến chính sách thuế GTGT, hồ sơ tồn đọng và thời điểm áp dụng quy định. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã kiến nghị cơ quan quản lý tháo gỡ các bất cập về hoàn thuế, chính sách thuế đối với sản phẩm thủy sản, phân định giữa sơ chế và chế biến, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và xử lý hàng xuất khẩu bị trả về. Cụ thể, theo VASEP, một số hồ sơ hoàn thuế bị kéo dài do hệ thống cảnh báo rủi ro liên quan đến hóa đơn hoặc nhà cung cấp, trong khi cả những giao dịch không có dấu hiệu rủi ro cũng phải chờ xác minh. VASEP đề nghị nếu chỉ một phần số tiền đề nghị hoàn có rủi ro thì cần khoanh đúng phần đó để kiểm tra, phần còn lại nếu đủ điều kiện cần tiếp tục được giải quyết. VASEP cũng kiến nghị áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên toàn quốc, xử lý hồ sơ tồn đọng, không tự động thu hồi thuế chỉ dựa trên cảnh báo rủi ro. Ở ngành hồ tiêu và gia vị, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam kiến nghị tháo gỡ vướng mắc về gia hạn thuế và xử lý thuế GTGT đầu vào còn tồn. Theo bà Liên, doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu, gia vị phải sử dụng lượng vốn lớn để đưa hàng đến thị trường nước ngoài và chờ người mua thanh toán, trong khi thời gian vận chuyển dài. Hiệp hội đề nghị xem xét linh hoạt việc gia hạn thuế đối với ngành nông sản xuất khẩu bao gồm cả hồ tiêu và gia vị, ít nhất trong năm 2026; đồng thời nghiên cứu kéo dài chính sách nếu khó khăn tiếp tục diễn ra. Về thuế GTGT, một số doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu còn tồn thuế đầu vào phát sinh trước thời điểm quy định mới có hiệu lực. Do hồ tiêu chế biến chủ yếu để xuất khẩu, tỷ trọng sản phẩm bán trên thị trường nội địa thấp nên doanh nghiệp gặp khó khi xử lý khoản thuế này nếu việc khấu trừ gắn với yêu cầu phát sinh thuế đầu ra trong nước. Hiệp hội kiến nghị cơ quan thuế hướng dẫn cụ thể, kịp thời việc khấu trừ và xử lý số thuế GTGT đầu vào còn tồn, tránh vướng mắc do sự giao thoa giữa các quy định pháp luật. VIỆT LINH Đề xuất miễn các loại thuế liên quan đến nông nghiệp đặt ra yêu cầu rà soát chính sách theo hướng hỗ trợ đúng đối tượng, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp và tạo lợi ích thực chất cho nông dân. ĐỀ XUẤT MIỄN THUẾ LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP: Đại biểu Quốc hội đề xuất miễn tất cả các loại thuế liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp ẢNH MINH HOẠ: TTXVN Ở ngành hồ tiêu và gia vị, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam kiến nghị tháo gỡ vướng mắc về gia hạn thuế và xử lý thuế GTGT đầu vào còn tồn. Để dân hưởng lợi nhiều nhất Mục tiêu cuối cùng là giảm chi phí thực chất, tháo gỡ điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng, giúp người trực tiếp làm ra nông sản được hưởng phần giá trị xứng đáng hơn. Thực hiện di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 28/12/1989, Quốc hội ban hành nghị quyết về miễn thuế nông nghiệp. Chính sách được áp dụng trong hai năm 1990 và 1991, mỗi năm miễn 50% số thuế phải nộp. Từ năm 2001, chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp tiếp tục được duy trì, gia hạn qua nhiều giai đoạn và hiện áp dụng đến hết ngày 31/12/2030. Đã đến lúc xem xét miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp lâu dài, thay vì định kỳ gia hạn. Số thu từ sắc thuế này không lớn so với tổng thu ngân sách nhà nước, trong khi một chính sách ổn định sẽ giúp người dân yên tâm khi lập kế hoạch sản xuất, đầu tư và khai thác giá trị đất đai. Tuy nhiên, miễn thuế sử dụng đất mới chỉ là một phần trong câu chuyện hỗ trợ nông nghiệp. Nếu muốn nông dân thực sự được hưởng lợi, cần nhìn vào những khó khăn họ đang đối mặt trong toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản. Nông dân không chỉ đối mặt với rủi ro thời tiết, dịch bệnh hay tình trạng được mùa mất giá mà chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu, điện, máy móc và nhân công cũng tạo sức ép lớn lên giá thành sản xuất. Trong khi đó, giá nông sản đầu ra biến động theo thị trường, khiến thu nhập của người sản xuất thiếu ổn định. Vì thế, miễn thuế sử dụng đất là một chuyện, giảm được chi phí thực tế lại là chuyện khác. Nếu những nút thắt về giá vật tư, khâu thu mua và đầu ra vẫn còn, khoản thuế được miễn chưa chắc đã chuyển hóa thành mức tăng tương ứng trong thu nhập của người nông dân. Một vấn đề đáng chú ý khác là hóa đơn, chứng từ trong thu mua nông sản. Nhiều hộ đã tham gia hợp tác xã, liên kết sản xuất và hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn, nhưng khi bán sản phẩm vẫn gặp khó khăn về chứng từ. Việc thiếu chứng từ phù hợp có thể khiến doanh nghiệp khó chứng minh đầu vào, hoàn thiện hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng. Khi hồ sơ kéo dài hoặc phát sinh vướng mắc, chi phí vốn và rủi ro kinh doanh tăng. Những chi phí này có thể tác động ngược trở lại giá thu mua, khiến người sản xuất chịu thiệt. Cơ quan quản lý cần nghiên cứu cơ chế chứng từ phù hợp với đặc thù của nông dân trực tiếp bán sản phẩm, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp thu mua, xuất khẩu thực hiện đúng quy định. Đây là một trong những việc cần làm để giảm chi phí cho cả người sản xuất và doanh nghiệp. Đề xuất miễn thuế liên quan đến nông nghiệp cần được xem xét trên cơ sở rà soát rõ những sắc thuế nào còn là gánh nặng, đối tượng nào cần hỗ trợ và ưu đãi được áp dụng ở khâu nào của chuỗi giá trị. Thuế sử dụng đất nông nghiệp đã được miễn theo chính sách hiện hành; thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trực tiếp của cá nhân, hộ gia đình đáp ứng điều kiện cũng thuộc diện miễn thuế thu nhập cá nhân. Một số hoạt động nông nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi thuế giá trị gia tăng có cách áp dụng khác nhau tùy loại hàng hóa và khâu giao dịch. Do đó, mở rộng ưu đãi cần đi kèm rà soát để tránh trùng lặp với chính sách hiện hành. Quan trọng hơn, phải xác định rõ người hưởng lợi cuối cùng. Miễn thuế cho doanh nghiệp cung ứng vật tư hoặc chế biến nông sản không đồng nghĩa toàn bộ khoản thuế giảm đi sẽ chuyển thành giá bán vật tư thấp hơn cho nông dân. N.N.T Để chính sách thuế "nâng đỡ" nông dân CHUYỆN HÔM NAY TIẾP THEO TRANG 1
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==