tienphong.vn CĐ15 QUẢNG NGÃI TỰ HÀO VỚI 4 DI SẢN VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO LỄ CẦU MƯA GIỮA ĐẠI NGÀN Với đồng bào Hrê ở vùng cao Quảng Ngãi, thiên nhiên không chỉ là môi trường sống mà còn là thế giới linh thiêng, nơi các vị thần (gọi chung là Yang) cai quản mọi vận động của đất trời. Và khi đất đai nứt nẻ, suối cạn dòng, họ tìm đến một nghi lễ cổ xưa là lễ cầu mưa. Lễ cầu mưa thường được tổ chức vào mùa khô, khoảng từ tháng Năm đến tháng Bảy âm lịch. Trong Danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia vừa được Bộ VH-TT&DL công bố, lễ cầu mưa của người Hrê là một trong 4 di sản mới của Quảng Ngãi được ghi danh. Nhưng với người dân nơi đây, nghi lễ ấy đã tồn tại từ lâu, in sâu trong ký ức cộng đồng như một phần không thể thiếu của đời sống. Già làng Phạm Văn Tông (72 tuổi, thôn Huy Ba 1, xã Ba Động, tỉnh Quảng Ngãi) nhớ lại, ngày xưa, mỗi khi hạn hán kéo dài, cả làng sẽ họp bàn kỹ lưỡng trước khi quyết định tổ chức lễ. “Không phải muốn làm là làm. Phải chọn ngày, chọn người, chuẩn bị lễ vật đầy đủ. Và đặc biệt, ngày đó làng phải giữ “sạch”, người ngoài không được vào, người trong không được ra”, ông Tông kể. Không gian thiêng được giữ kín, như cách người Hrê bảo vệ niềm tin của mình. Lễ cầu mưa diễn ra vào khoảng tháng 5 đến tháng 7 âm lịch, đây là thời điểm khắc nghiệt nhất của mùa khô. Lễ vật thường gồm heo, gà đen, trầu cau, trứng… do dân làng cùng nhau góp lại, thể hiện tinh thần cộng đồng rõ nét. Điểm đặc biệt nhất của nghi lễ chính là phần “chọc giận thần mưa”, một hành động vừa kỳ lạ, vừa mang màu sắc biểu tượng sâu sắc. Người chủ lễ buộc một chiếc ché hoặc nồi đất vào dây thừng rồi ném xuống vực sâu, trong khi những người khác đánh chiêng, hò reo của dân làng tạo nên không khí náo nhiệt. Theo quan niệm truyền thống, chính sự “khiêu khích” này sẽ khiến thần mưa tức giận mà trút nước xuống trần gian, cứu lấy mùa màng đang khát. Nghi thức thường diễn ra vào giữa trưa khi mặt trời nắng gắt. Sau phần lễ, không gian trở nên rộn ràng. Tiếng cồng chiêng vang lên, người dân nắm tay nhau nhảy múa. Ông Phạm Văn Xôi (58 tuổi, trú thôn Huy Ba 1) chia sẻ, không chỉ là lễ cầu mưa, đây còn là dịp để cả làng sum họp, gắn kết với nhau, cùng nhau chia sẻ khó khăn. Ai cũng góp một phần, không phân biệt giàu nghèo. Ngày nay, lễ cầu mưa của người Hrê không còn diễn ra thường xuyên như trước, nhưng giá trị tinh thần của nó vẫn còn nguyên vẹn. SÓNG NƯỚC SA HUỲNH VÀ LỜI KHẤN GỬI BIỂN Nếu người Hrê “gọi mưa” từ núi rừng, thì ngư dân Sa Huỳnh gửi gắm niềm tin vào biển cả qua lễ hội Cầu ngư, đây cũng là một di sản cũng vừa được ghi danh. Từ bao đời nay, cư dân ở các vùng ven biển Quảng Ngãi, đặc biệt là Sa Huỳnh, từ lâu sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản. Gắn với nghề biển là hệ thống tín ngưỡng phong phú, trong đó tiêu biểu là tín ngưỡng thờ Cá Ông (cá voi), được tin là luôn che chở, cứu giúp ngư dân khi gặp nạn trên biển. Lễ hội Cầu ngư Sa Huỳnh ra đời từ xa xưa và được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Đây không chỉ là truyền thống văn hóa tốt đẹp mà còn là dịp để ngư dân bày tỏ lòng biết ơn thần linh và tiền nhân, gửi gắm ước mong sóng yên biển lặng, mùa đánh bắt thuận lợi. Hằng năm, vào mùng 3 tháng Giêng, lễ hội được tổ chức tại khu vực cửa biển Sa Huỳnh với nhiều nghi thức trang trọng. Từ cuối tháng Chạp, cộng đồng ngư dân đã bắt đầu chuẩn bị cho lễ hội như tu sửa lăng Ông, trang trí ghe thuyền, tập luyện đội hát bả trạo, hát sắc bùa và chuẩn bị lễ vật. Nghi lễ chính gồm lễ tế cáo và lễ mở cửa biển. Chiều mùng 2 Tết, các thuyền trong vạn tập trung tại cửa biển, treo cờ, kết hoa, bày lễ vật và ngư cụ. Lễ tế cáo được tổ chức tại lăng Thạch Bi để dâng hương, đọc văn tế bày tỏ lòng biết ơn thần Nam Hải và cầu mong một năm đi biển thuận lợi. Sáng hôm sau, nghi thức quan trọng nhất là mở cửa biển chính thức bắt đầu. Chiếc thuyền được chọn đi đầu thường là thuyền có một năm làm ăn thuận lợi. Khi thuyền rẽ sóng ra khơi, tiếng trống hội vang lên, hòa cùng tiếng reo hò của hàng trăm người đứng trên bờ. Bên cạnh nghi lễ, phần hội cũng sôi động không kém. Múa lân, trống hội, hát bả trạo, hát sắc bùa, trò chơi lắc thúng… tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc. Ông Nguyễn Sáu (trú thôn Thạch Bi 1, phường Sa Huỳnh) cho biết, lễ hội Cầu ngư không chỉ là nghi lễ tâm linh mà còn là ngày hội của ngư dân. Ai đi làm ăn xa cũng cố gắng về tham dự. Khi chiếc thuyền đầu tiên ra khơi, mọi người đều tin rằng năm mới sẽ thuận buồm xuôi gió, tôm cá đầy khoang. SỢI CHỈ THỔ CẨM VÀ NGHI LỄ “ĂN THAN” Không chỉ dừng lại ở lễ hội và nghi lễ tín ngưỡng, trong danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia lần này còn ghi nhận những giá trị văn hóa mang tính nghề nghiệp và nghi lễ độc đáo của đồng bào Gié - Triêng, mở ra một góc nhìn khác về đời sống văn hóa miền núi Quảng Ngãi. Trong đó, nghề dệt truyền thống của người Gié - Triêng là một minh chứng sinh động cho sự sáng tạo của con người trong quá trình thích nghi với tự nhiên. Từ những tấm vỏ cây thô sơ ban đầu, họ đã biết tách sợi, dệt vải để làm chăn hoặc trang phục. Theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội và giao lưu văn hóa, nghề dệt thổ cẩm dần hình thành. Nguyên liệu chính là bông, được se thành sợi và nhuộm bằng các loại cây rừng để tạo ra màu sắc tự nhiên như đỏ, đen, vàng. Từ đó dệt nên những tấm vải mềm mại, bền đẹp với hoa văn đặc trưng. Nghệ nhân Y Ấp (trú thôn Đắk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi) cho biết, để hoàn thành một tấm thổ cẩm, người dệt phải mất nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Mỗi đường dệt đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn. Trên nền vải, các hoa văn hiện lên sống động: hình chữ X, chân rết, hạt bí, sóng nước… Mỗi họa tiết không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn chứa đựng câu chuyện về cuộc sống, về thiên nhiên và niềm tin của cộng đồng. Trong bối cảnh hiện đại, khi sợi công nghiệp và vải may sẵn ngày càng phổ biến, nghề dệt truyền thống vẫn được gìn giữ như một biểu tượng văn hóa. Những tấm thổ cẩm không chỉ là trang phục mà còn là “ngôn ngữ” kể chuyện của người Gié - Triêng. Bên cạnh nghề dệt, Lễ ăn than (Cha K’chiah) của người Gié - Triêng cũng là một nghi lễ độc đáo vừa được ghi danh trong danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc ghi danh không chỉ tôn vinh những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc mà còn mở ra cơ hội mới cho công tác bảo tồn và phát huy di sản trong đời sống đương đại.n Trong danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia vừa được Bộ VH-TT&DL công bố, tỉnh Quảng Ngãi có thêm 4 di sản được ghi danh, trải dài từ miền núi đến vùng biển. Mỗi di sản không chỉ là một nghi lễ hay nghề truyền thống, mà còn là “ký ức sống” của cộng đồng, phản ánh cách con người ứng xử với thiên nhiên, gìn giữ niềm tin và kết nối thế hệ trong dòng chảy hiện đại. Lễ cầu ngư trên biển của cư dân phường Sa Huỳnh Lễ cầu mưa của đồng bào Hrê PHI VẬT THỂ QUỐC GIA NGUYỄN NGỌC “Việc 4 di sản được ghi danh không chỉ là sự ghi nhận những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Quảng Ngãi, mà còn khẳng định chiều sâu bản sắc được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Mỗi di sản đều chứa đựng tri thức dân gian, đời sống tinh thần và dấu ấn lịch sử riêng biệt. Đây cũng là nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục triển khai các chương trình bảo tồn, phục dựng và phát huy giá trị di sản, gắn với phát triển du lịch trong thời gian tới”. Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Quảng Ngãi PHAN VĂN HOÀNG Nghệ nhân Y Ấp bên khung dệt MIỀN TRUNG - ĐỘNG LỰC MỚI
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==