11 tienphong.vn KHÁT VỌNG VIỆT NAM PHÓ THỦ TƯỚNG NGUYỄN VĂN THẮNG: ĐẦU TƯ MẠNH VÀO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Kế hoạch 5 năm tới đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu rất cao so với giai đoạn trước xuất phát từ 2 mục tiêu chiến lược đã được Đại hội XIV của Đảng xác định: Đến năm 2030 - kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam phải trở thành nước phát triển, có thu nhập cao và công nghiệp hiện đại. Muốn đạt được mục tiêu đó, chúng ta phải duy trì tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian dài từ nay đến năm 2045. Đây là mục tiêu rất thách thức nhưng không có con đường nào khác nếu muốn thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu chiến lược của quốc gia. Tuy nhiên, tăng trưởng cao nhưng phải đi đôi với phát triển bền vững. Trước đây tăng trưởng của chúng ta chủ yếu dựa vào đất đai, lao động giá rẻ và tài nguyên. Song những yếu tố này ngày càng cạn kiệt và khó khăn hơn. Vì vậy nếu vẫn dựa vào cách thức cũ thì có thể đi nhanh 1-2 năm nhưng chắc chắn sẽ gặp khó trong thời gian dài. Do đó, động lực cốt lõi cho tăng trưởng thời gian tới phải là phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hiện tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực này trong tăng trưởng kinh tế mới khoảng 14% và mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ trọng này lên khoảng 30%. Trong năm 2025, Việt Nam đã tập trung sửa đổi các cơ chế, đặc biệt là cơ chế tài chính, để khuyến khích doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư mạnh vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây là trái tim của tăng trưởng. Về vai trò của chính sách tiền tệ và tài khóa, Chính phủ đang thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán để trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ yếu cho doanh nghiệp. Mục tiêu đến năm 2030, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 120% GDP. Khi đạt quy mô này, Việt Nam sẽ thu hút được lượng vốn lớn từ các quỹ đầu tư và nhà đầu tư quốc tế, góp phần cung cấp nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng. PHÓ CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN HỒNG DIÊN: NUÔI NGUỒN THU, DƯỠNG SỨC DÂN Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 32 của thế giới với độ mở gấp 2 lần GDP. Nghĩa là, tất cả những biến động từ bên ngoài đều tác động ngay đến tình hình trong nước. Trong khi đó, luật pháp của Việt Nam vẫn có khoảng cách nhất định đối với luật pháp và thông lệ quốc tế. Điều này dẫn đến chúng ta mất thêm chi phí, mất thêm thời gian, cơ hội. Vì vậy, chúng ta cần tập trung tháo gỡ vướng mắc, khó khăn về thể chế trong thực thi và phù hợp, đồng bộ với luật pháp, thông lệ quốc tế. Cùng với đó, cần thiết lập và củng cố niềm tin đối với các nhà đầu tư cả ở trong và ngoài nước. Làn sóng đầu tư nước ngoài đến với Việt Nam là khá mạnh và ổn định trong nhiều năm do chi phí lao động, giá thành sinh hoạt thấp; thị trường tiêu dùng lớn; tình hình chính trị ổn định… Hiện nay, có 72 - 74% giá trị xuất khẩu thuộc về các doanh nghiệp FDI, điều này đồng nghĩa với việc 72 - 74% giá năng lượng rẻ, giá nhân công rẻ do các doanh nghiệp này khai thác. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục chấn chỉnh để thu hút đầu tư, không chỉ về vốn mà cần thu hút về công nghệ và năng lực quản trị. Chúng ta phải đặt ra những điều kiện cụ thể để các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam không chỉ để khai thác lợi thế của nước ta mà phải có nghĩa vụ lan tỏa đến cộng đồng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam; đồng thời, có nghĩa vụ khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ thay vì đi nhập của nước khác. Tiền rất quý nhưng chúng ta cần hơn nữa là công nghệ, đi theo tiền phải là công nghệ mới, công nghệ mới phải đi theo quản trị mới; phải gắn trách nhiệm của các doanh nghiệp FDI đối với việc lan tỏa ra khu vực doanh nghiệp trong nước. Có như vậy, việc thu hút đầu tư của chúng ta mới thực chất. Đối với trong nước, cần phải làm thế nào để người dân và xã hội yên tâm bỏ tiền đầu tư, sản xuất kinh doanh. Chúng ta phải có giải pháp để nuôi dưỡng nguồn thu, dưỡng sức dân, dưỡng sức doanh nghiệp. Theo đó, trước hết phải công khai về nghĩa vụ, cơ chế hỗ trợ trong giai đoạn đầu để khuyến khích được nhà đầu tư và người có tiền yên tâm bỏ tiền vào sản xuất, lưu thông. BỘ TRƯỞNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HOÀNG MINH SƠN: THU HÚT NHÂN TÀI VỀ NƯỚC Trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Hạ tầng dành cho khoa học công nghệ có thể đầu tư nhanh, nhưng nhân lực mới đóng vai trò quyết định. Nếu không có con người tốt thì tiền đầu tư vào không hiệu quả, không tạo ra giá trị. Nguồn nhân tài thứ nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất là tập trung thu hút các chuyên gia, nhà khoa học từ nước ngoài về, đặc biệt là người Việt Nam ở nước ngoài. Hiện nay, chúng ta có lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài đông đảo, được đào tạo bài bản và tham gia thực tiễn nghiên cứu tại các đại học, tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới. Nguồn nhân tài thứ hai là đào tạo và phát triển ở trong nước để thu hút những người giỏi trong các lĩnh vực khác nhau về làm nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học, góp phần vừa nghiên cứu phát triển vừa đào tạo được nguồn nhân lực kế cận. Bộ đã tham mưu xây dựng đề án về phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. Trong bối cảnh công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, yêu cầu về vị trí việc làm thay đổi thì đây là yêu cầu rất cấp thiết, là giải pháp đột phá quan trọng để tạo ra tăng trưởng hai con số. Nếu không có lực lượng lao động kỹ năng nghề cao thì không thể thu hút đầu tư, không thể tăng năng suất lao động. Muốn có nhân lực chất lượng cao ở đại học và nghề nghiệp, cái gốc vẫn là giáo dục phổ thông. Việc phổ cập giáo dục phổ thông và cấp học tương đương là yêu cầu hết sức cấp thiết. Đầu tư cho giáo dục không chỉ là chính sách xã hội mà là đầu tư cho phát triển. Trong thời gian tới, phải làm sao để đảm bảo mọi người dân có nhu cầu học tập phải được học, ít nhất là hết phổ thông và tương đương. Đây là điều hết sức quan trọng để tạo ra lực lượng lao động có trình độ và nâng năng suất lao động. n Lãnh đạo Chính phủ và Quốc hội đều cho rằng, động lực cốt lõi cho tăng trưởng thời gian tới phải là phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam đã tập trung sửa đổi các cơ chế, chính sách để khuyến khích doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư mạnh vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây là “trái tim” của tăng trưởng trong thời gian tới. LUÂN DŨNG (ghi) KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Hoạt động nghiên cứu đào tạo tại Trường Đại học Phenikaa Hà Nội ẢNH: TRƯƠNG ANH Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==