Báo Tiền Phong số 278

ĐỘNG LỰC CHÍNH TỪ CÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG Bức tranh tăng trưởng GRDP quý III và 9 tháng năm 2026 cho thấy đà phục hồi đang lan rộng tại nhiều địa phương. Phần lớn tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng quý III cao hơn các quý trước, tạo thêm động lực cho kết quả chung của 9 tháng. Động lực chính đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, cùng với sự cải thiện của khu vực dịch vụ. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, bán buôn, bán lẻ, vận tải, kho bãi ghi nhận mức tăng cao tại nhiều địa phương trọng điểm về công nghiệp và dịch vụ. Trong khi đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì mức tăng tương đối ổn định, khoảng 2-5%, tiếp tục đóng vai trò bệ đỡ. Trong quý III có 17/34 địa phương đạt mức tăng GRDP trên 10%, tăng mạnh so với 9 địa phương trong 6 tháng đầu năm. Tính chung 9 tháng, 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10,01% đến 12,54%. Quảng Ninh dẫn đầu với 12,54%, tiếp đến Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08%, Bắc Ninh 11,81%, Ninh Bình 11,31%. Thái Nguyên 11,24%, Hưng Yên 11,22%, Khánh Hòa 11,21%, Đà Nẵng 10,31%, Tây Ninh 10,30%, Phú Thọ 10,01% và Đồng Nai 10,01%. Đáng chú ý, có 6 địa phương đã vượt mục tiêu đề ra theo Nghị quyết 180/NQ-CP, gồm Ninh Bình, Tây Ninh, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh và Thái Nguyên. Ở cấp độ ngành, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tạo lực kéo đáng kể. Trong quý III, có 30/34 địa phương ghi nhận mức tăng của khu vực này trên 10%. Khu vực dịch vụ cũng có 11 địa phương tăng trên 10%, trong đó Quảng Ninh tăng 14,07%, Đà Nẵng 12,32%, Hải Phòng 11,91%, Điện Biên 11,54% và Lào Cai 10,70%. Những con số này cho thấy, động lực tăng trưởng không chỉ tập trung tại các đô thị lớn mà đang được tạo ra từ nhiều cực công nghiệp, dịch vụ và du lịch. LÝ DO ĐẦU TÀU KINH TẾ CHƯA TĂNG TRƯỞNG 2 CON SỐ Hà Nội và TPHCM là hai trường hợp đáng chú ý khi đều có mức tăng trưởng quý III cao hơn đáng kể so với 6 tháng đầu năm, nhưng kết quả 9 tháng chưa đạt 10%. Hà Nội ghi nhận GRDP quý III tăng 10,02%, đưa mức tăng 9 tháng lên 8,85%, cải thiện so với mức 8,23% của 6 tháng đầu năm. TPHCM đạt mức tăng GRDP quý III 9,86%, đưa kết quả 9 tháng lên 9,06%, cao hơn mức 8,64% của 6 tháng đầu năm. Trao đổi với PV Tiền Phong, bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính - nhận định, các đầu tàu kinh tế có quy mô lớn nên mức tăng trưởng dù không đạt hai con số vẫn đóng góp đáng kể cho tăng trưởng chung. Theo đó, cần phân biệt giữa tốc độ tăng trưởng và quy mô đóng góp của từng địa phương. Hà Nội trong quý III đã vượt mức tăng trưởng chung của cả nước. Tuy nhiên, do kết quả 9 tháng được tính trên cả một giai đoạn dài hơn nên tốc độ tăng trưởng chung của thành phố vẫn ở mức 8,85%, tiệm cận mức tăng 9,01% của cả nước. Với TPHCM, bà Hương cho rằng thành phố vẫn có nhiều động lực từ công nghiệp, trong đó một số hoạt động liên quan đến dầu khí ghi nhận mức tăng cao. Đây là một trong những điểm sáng góp phần đưa tăng trưởng 9 tháng của TPHCM lên 9,06%, cao hơn mức chung của cả nước. “Vì quy mô lớn thì mức tăng của họ sẽ đóng góp nhiều hơn so với những tỉnh có quy mô nhỏ”, bà Hương nói. Lãnh đạo Cục Thống kê cho biết, kết quả trên cho thấy các đầu tàu kinh tế đang thực sự vươn lên trong nhóm có mức tăng trưởng cao, nhưng để vượt qua mức tăng chung của cả nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và cần những đột phá trong thời gian tới. Thực tế, diễn biến trong quý III đã cho thấy sự cải thiện rõ hơn. Hà Nội đạt mức tăng 10,02%, vượt mức tăng trưởng chung của nền kinh tế trong quý; trong khi TPHCM với mức tăng 9 tháng đạt 9,06% cũng đã cao hơn mức 9,01% của cả nước. Khoảng cách giữa hai đầu tàu và mặt bằng tăng trưởng chung đang được thu hẹp, song để đóng góp mạnh hơn vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước, cả Hà Nội và TPHCM vẫn cần duy trì và nâng cao tốc độ tăng trưởng trong những tháng cuối năm. VIỆT LINH 15 n Thứ Hai n Ngày 5/10/2026 KINH TẾ ÁP LỰC Ở CHẶNG NƯỚC RÚT Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh - Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê - cho biết, tăng trưởng kinh tế quý III và 9 tháng vừa qua được nâng đỡ bởi ba động lực liên kết chặt chẽ: Đầu tư công tạo thêm khối lượng sản xuất; công nghiệp và xuất khẩu mở rộng đầu ra; tiêu dùng trong nước duy trì nhịp tăng của thương mại và dịch vụ. Cụ thể: Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt khi tiến độ giải ngân được cải thiện, đặc biệt là ở các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính lan tỏa cao, không chỉ trực tiếp thúc đẩy ngành xây dựng mà còn tạo hiệu ứng kéo đầu tư tư nhân. Khu vực công nghiệp và xây dựng là động lực tăng trưởng quan trọng, với công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò “đầu tàu”, tăng 12,28% trong quý III và 11,36% trong 9 tháng, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung. Hoạt động xuất khẩu tiếp tục trở thành điểm tựa cho sản xuất trong nước, trong khi tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình duy trì xu hướng tăng tích cực, tăng 9,75% trong 9 tháng, đóng góp 6,88 điểm phần trăm vào tăng trưởng. Sức cầu được cải thiện nhờ thương mại, du lịch, lưu trú, giải trí và sự gia tăng nhu cầu đối với các dịch vụ hiện đại. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026, quý IV cần tăng khoảng 12,5%, cao hơn khoảng 4,1 điểm % so với cùng kỳ năm trước. Đây là mục tiêu khó khăn và rất áp lực. Theo bà Hạnh, một trong những động lực quan trọng là đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Cuối năm thường là thời điểm giải ngân được đẩy nhanh, nhưng vốn chỉ thực sự đóng góp vào GDP quý IV khi nhanh chóng chuyển thành khối lượng xây dựng và năng lực sản xuất thực tế. Cùng với đầu tư, sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, cần tiếp tục được duy trì. Trong bối cảnh nhu cầu bên ngoài và chuỗi cung ứng quốc tế còn biến động, cần theo dõi sát đơn hàng, tồn kho và nguồn nguyên liệu của các ngành xuất khẩu chủ lực, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì công suất và giao hàng đúng tiến độ. Khu vực dịch vụ cũng còn dư địa trong những tháng cuối năm thông qua tiêu dùng, thương mại và du lịch. HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ MỞ THÊM DƯ ĐỊA Theo ông Bùi Minh Giáp - chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam không phụ thuộc vào một động lực tăng trưởng đơn lẻ mà đang được thúc đẩy bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Trước hết là ổn định vĩ mô, mức độ mở cửa thương mại cao và khả năng thu hút FDI, trong khi nền tảng sản xuất trong nước tiếp tục được mở rộng. Đầu tư công vẫn còn dư địa, qua đó tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Việt Nam cũng có lợi thế từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, đặc biệt là trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, điện tử, logistics và các ngành xuất khẩu. Mạng lưới các hiệp định thương mại, vị trí gần các trung tâm sản xuất lớn, lực lượng lao động năng động cùng môi trường kinh tế, chính trị ổn định tiếp tục là những lợi thế quan trọng. Theo ông Giáp, Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng nếu so với các nền kinh tế trong khu vực. Một trong những dư địa lớn là nâng cấp sản xuất công nghiệp. Việt Nam đã tham gia khá sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng còn khả năng cải thiện các khâu tạo giá trị cao như thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D), logistics, dịch vụ số, quản trị chuỗi cung ứng và xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, thách thức là Việt Nam vẫn chủ yếu mạnh ở khâu sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu, trong khi những công đoạn tạo ra giá trị cao hơn còn hạn chế. Do đó, doanh nghiệp phải nâng cấp nhanh hơn về công nghệ, quản trị, kỹ năng và tiêu chuẩn để không bỏ lỡ cơ hội. “Cơ hội nếu Việt Nam không nắm bắt thì sẽ có những nơi khác nắm bắt”, ông Giáp nói. VIỆT LINH GDP 9 tháng tăng 9,01%, nhưng để đạt mục tiêu cả năm tăng từ 10% trở lên, GDP quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Mức tăng này đặt áp lực rất lớn lên các động lực tăng trưởng trong những tháng cuối năm. GDP 9 tháng năm nay tăng 9,01%, nhưng chỉ 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng GRDP trên 10%. Trong khi đó, Hà Nội và TPHCM - hai đầu tàu kinh tế lần lượt đạt 8,85% và 9,06%. Theo chuyên gia, dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực, mà còn ở chất lượng đầu tư (Ảnh minh họa) Quảng Ninh tăng trưởng GRDP 12,54%, dẫn đầu cả nước sau 9 tháng ẢNH: HOÀNG DƯƠNG Theo ông Bùi Minh Giáp - chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng nếu so với các nền kinh tế trong khu vực. Một trong những dư địa lớn là nâng cấp sản xuất công nghiệp. Việt Nam đã tham gia khá sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng còn khả năng cải thiện các khâu tạo giá trị cao như thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D), logistics, dịch vụ số, quản trị chuỗi cung ứng và xây dựng thương hiệu. Những động lực thúc đẩy tăng trưởng trong quý IV 12 địa phương tăng trưởng trên 10%, sao không có Hà Nội, TPHCM?

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==