PHÁ ĐÁ MỞ ĐƯỜNG “3 không” ở Lân Nóng đã khiến cuộc sống của người dân nơi đây gần như tách biệt: không điện, không sóng điện thoại và đặc biệt là không có đường giao thông. Ban đêm, người dân phải thắp đèn dầu lấy ánh sáng; muốn ra bên ngoài chủ yếu đi bộ men theo những con đèo dốc, nhỏ hẹp. Mùa mưa, do nằm vùng trũng, xung quanh là các đỉnh núi nên thường xuyên bị ngập, khu dân cư bị cô lập nhiều ngày. Lân Nóng cách trung tâm xã khoảng 8km. Mỗi khi vào vụ mùa thu hoạch, việc đưa nông sản ra ngoài tiêu thụ cũng là một hành trình nhọc nhằn của người dân. Một tuyến đường đủ rộng để ô tô có thể vào tận nơi đã trở thành mong mỏi lớn của 13 hộ dân Lân Nóng. Để biến mong mỏi ấy thành hiện thực, Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Sư đoàn Bộ binh 3 (Quân khu 1) tổ chức phá đá, mở đường, san gạt mặt bằng và đổ bê tông. Lữ đoàn Công binh 575 (Quân khu 1) đảm nhiệm máy xúc, xử lý đất đá, hỗ trợ hạ thấp độ cao các đèo. Trước khi máy móc có thể vào công trường, chính những người lính đã phải dùng cuốc, xẻng, xà beng mở từng đoạn đường nhỏ. Khó nhất là bốn con đèo phải mở rộng, hạ thấp độ cao. Có những vị trí phải dùng thuốc nổ phá đá, sau đó máy xúc tiếp tục san gạt; những khối đá máy móc không xử lý được lại cần đến sức người. Đèo đỉnh 3 được xác định là một trong những đoạn vất vả nhất bởi khối lượng đá lớn. Đại tá Nguyễn Văn Quyền - Phó Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn, Trưởng ban Chỉ đạo thi công con đường vào khu dân cư Lân Nóng, nhớ nhất thời điểm tuyến đường chỉ còn khoảng 400m nữa là tới khu dân cư. Mưa liên tục khiến việc khoan đá, nhồi thuốc nổ bị ảnh hưởng. Trời vừa tạnh, các lực lượng lại tranh thủ làm việc, kể cả khi trời tối. “Có ngày phải làm đến 12 tiếng đồng hồ không kể thời tiết mưa nắng. Có hôm phải làm đến nửa đêm”, Đại tá Quyền nói. Trên công trường đặc biệt này, sự vất vả của bộ đội cũng được người dân Lân Nóng nhìn thấy và sẻ chia. Với Trung úy Hoàng Đình Đức - Trung đội trưởng Trung đội 1 (Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 123, Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn), điều nhớ nhất không phải những ngày làm việc kéo dài, mà là cách bà con tiếp sức cho bộ đội. “Khi chúng tôi đang lao động vất vả, mồ hôi đầm đìa thì những người dân trong khu dân cư Lân Nóng đã mang nước, ngô, khoai ra để động viên cán bộ, chiến sĩ. Những tiếng nói, cười vui vẻ cảm thấy rất ấm áp tình quân dân”, Trung úy Đức kể lại. ĐƯỜNG MỚI, NHIỀU ĐỔI THAY Với người dân Lân Nóng, niềm vui về con đường có từ khi biết tin Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn cùng các đơn vị quân đội có kế hoạch triển khai làm. Bà con liên tục hỏi khi nào bộ đội vào làm, đường có được mở rộng, có đổ bê tông hay không… Sau hơn 5 tháng, mong mỏi ấy thành hiện thực. Ông Vi Văn Sửu - Trưởng thôn Loi, xã Cai Kinh, nhận thấy rõ sự thay đổi của Lân Nóng khi những chuyến xe tải qua lại thường xuyên hơn. Lân Nóng đã bước ra khỏi thế biệt lập vốn tồn tại nhiều năm. “Từ khi hoàn thành, tôi thấy con đường trở nên nhộn nhịp hơn, xe máy, xe ô tô qua lại thường xuyên để giao thương. Ô tô có thể vào tận thôn bản để thu mua na và các nông sản khác của bà con”, ông Sửu cho biết. Từ những thay đổi ban đầu, người dân địa phương bắt đầu nghĩ đến tương lai xa hơn. Theo ông Sửu, Lân Nóng còn giữ được cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa của đồng bào Nùng, có thể kết nối với các điểm tham quan trong vùng Công viên địa chất Lạng Sơn, mở thêm hướng phát triển du lịch cộng đồng. Một thay đổi khác ít được nhìn thấy nhưng có ý nghĩa lớn với các gia đình là chuyện học hành của con em. Trước đây, những đứa trẻ đi học bên ngoài phải gửi gắm hoặc ở trọ nhà người thân. Nay, khi giao thông thuận lợi, sau giờ học các em có thể trở về nhà với bố mẹ. Là một trong những người trực tiếp san gạt mặt bằng, đắp đá kè lề đường và các vị trí sát mép vực, Hạ sĩ Hoàng Văn Huy - chiến sĩ Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 123, Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn), cho biết sau những ngày ở công trường, điều anh nghĩ đến không phải là một thành tích, mà là ngày có thể trở lại nơi này. “Nếu sau một vài năm nữa có cơ hội trở lại đây, tôi muốn được đưa người thân trong gia đình đến với bà con với danh nghĩa là khách du lịch, trải nghiệm du lịch cộng đồng tại khu dân cư này. Và tôi sẽ có cơ hội kể với mọi người đây là con đường do bộ đội làm, trong đó có tôi”, Hạ sĩ Huy nói. NGUYỄN MINH Lãnh đạo Quân khu 1 và tỉnh Lạng Sơn thăm hỏi, động viên các lực lượng tham gia thi công con đường 7 NGƯỜI LÍNH n Thứ Tư n Ngày 26/8/2026 Tuyến đường vào khu dân cư Lân Nóng dài 2,7km, rộng 3m, bê tông dày 18cm, được thi công hơn 5 tháng. Ngày 12/8/2026, Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn tổ chức khánh thành, bàn giao tuyến đường cho địa phương. Công trình do Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn chủ trì, phối hợp với các lực lượng thuộc Sư đoàn Bộ binh 3 và Lữ đoàn Công binh 575 thực hiện. Tại lễ khánh thành, 6 tập thể, 15 cá nhân được tặng Bằng khen của Chính ủy Quân khu 1 và Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn; 1 tập thể, 29 cá nhân được tặng Giấy khen của Bộ CHQS tỉnh và UBND xã Cai Kinh. Mở đường vào Lân Nóng Từng chịu cảnh “3 không”, khu dân cư Lân Nóng thuộc thôn Loi, xã Cai Kinh (tỉnh Lạng Sơn) có 13 hộ dân sống biệt lập nay đã có con đường bê tông dài 2,7km nối với bên ngoài. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng nhân dân đã vượt địa hình hiểm trở, khoan đá, mở nền, đổ bê tông, đưa con đường vào sử dụng sau hơn 5 tháng thi công. Con đường vào Lân Nóng được cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Lạng Sơn và các lực lượng thi công trong thời gian hơn 5 tháng Khi tên mình được xướng lên tại lễ trao Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội lần thứ 26, điều tôi nghĩ đến đầu tiên không phải là thứ hạng, mà là hành trình từ một ý tưởng ban đầu đến một công trình được các cấp ghi nhận. Khoảnh khắc ấy cho tôi cảm nhận rằng: trong nghiên cứu khoa học, mỗi kết quả đều được tạo nên từ niềm say mê, sự kiên trì và khát vọng biến tri thức thành giá trị phục vụ thực tiễn. Ý tưởng của sáng kiến xuất phát từ thực tế máy tính điện - cơ trong các hệ thống điều khiển bắn tên lửa đối hải hiện nay đã được khai thác trong thời gian dài, ngày càng bộc lộ những hạn chế về kích thước, độ hao mòn, nguồn linh kiện thay thế và công tác bảo đảm kỹ thuật. Đặc biệt, trong đào tạo, việc sử dụng trực tiếp thiết bị thật cho học viên thực hành còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế số lượng người học tiếp cận và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến trang bị. Từ thực tiễn đó, tôi cùng các thành viên trong nhóm đã hình thành ý tưởng số hóa máy tính điện - cơ, sử dụng vi điều khiển, máy tính nhúng, cảm biến và thuật toán số để xây dựng một mô hình thí nghiệm nhỏ gọn, trực quan, có khả năng mô phỏng nguyên lý hoạt động và phục vụ huấn luyện. Trong quá trình thực hiện, nhóm đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, hoàn thiện mô hình và xây dựng hệ thống 14 bài thí nghiệm từ cơ bản đến tổng hợp. Sáng kiến được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm và hoàn thiện trong khoảng 12 tháng, trước khi được đưa vào giảng dạy tại Khoa Tên lửa - Pháo tàu, Học viện Hải quân từ tháng 10/2024. Được trao giải Ba là niềm vinh dự, tự hào lớn đối với tôi. Đây chưa phải giải thưởng cao nhất, nhưng là nguồn động lực mạnh mẽ để tôi tiếp tục học tập, nghiên cứu, hướng tới những mục tiêu cao hơn. Giải thưởng cũng giúp tôi thêm tin tưởng rằng, người giảng viên quân đội không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo, góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Đây cũng là điểm khởi đầu cho những nỗ lực mới, thôi thúc tôi tiếp tục rèn luyện bản lĩnh, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu; tạo ra những đề tài, sáng kiến thiết thực, phục vụ nhiệm vụ của Học viện, Quân chủng và góp phần sức nhỏ bé của mình vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. (Trích nhật ký Thiếu tá Bùi Văn Long - Giảng viên Khoa Tên lửa - Pháo tàu, Học viện Hải quân) NHẬT KÝ QUÂN NGŨ
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==