49 2 9 NGƯỜI TRẺ KHÔNG THỜ Ơ VỚI DI SẢN Không khó để bắt gặp những người trẻ chủ động tìm đến bảo tàng, di tích, cổ phục, âm nhạc dân gian hay các sản phẩm sáng tạo lấy cảm hứng từ lịch sử và di sản văn hóa truyền thống. Vì thế, nhận định rằng giới trẻ ngày càng xa rời di sản cần được nhìn lại thận trọng. Khoảng cách, nếu có, nhiều khi nằm ở cách chúng ta giới thiệu di sản và mức độ người trẻ được tham gia vào trải nghiệm văn hóa. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một ví dụ đáng chú ý. Từ khi mở cửa tại địa điểm mới vào tháng 11/2024, nơi đây nhanh chóng trở thành điểm đến của đông đảo công chúng, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Dịp Quốc khánh năm 2025, chuyên trang Sinh Viên Việt Nam của báo Tiền Phong ghi nhận hàng nghìn lượt khách trong ngày đầu kỳ nghỉ và hình ảnh nhiều bạn trẻ lựa chọn bảo tàng như một điểm “về nguồn”, vừa tham quan, tìm hiểu lịch sử, vừa lưu lại những khoảnh khắc của mình. Trước thềm Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XIII vào tháng 6/2026, hàng trăm đại biểu trẻ cũng đã tham quan bảo tàng trong một hoạt động giáo dục truyền thống. Những hiện tượng này cho thấy bảo tàng hoàn toàn có thể hấp dẫn người trẻ khi lịch sử được trình bày theo cách để họ nhìn thấy, cảm nhận và đối thoại. Không chỉ ở bảo tàng, sức hút của di sản với người trẻ còn thể hiện qua nhiều hình thức khác. Đại Việt Cổ Phong, do những người trẻ yêu văn hóa cổ Việt Nam thành lập từ năm 2014, đã lựa chọn nghiên cứu, phục dựng và phổ biến kiến thức về văn vật, trang phục, mỹ thuật cổ bằng hình ảnh, mô hình, phim và nhiều hình thức trực quan. Dự án Việt Sử Kiêu Hùng lại kể lịch sử bằng phim diễn họa, đưa các nhân vật và sự kiện lịch sử đến công chúng qua một ngôn ngữ gần với thói quen tiếp nhận của thế hệ số. Trong âm nhạc, Bắc Bling của Hòa Minzy trở thành một hiện tượng khi kết hợp chất liệu văn hóa Kinh Bắc với âm nhạc đương đại: Theo báo Tiền Phong, đến tháng 3/2026, sản phẩm này đã cán mốc 200 triệu lượt xem. Những trường hợp đó cho thấy người trẻ không quay lưng với di sản; họ có nhu cầu tiếp cận di sản theo những cách phù hợp với đời sống và cảm quan thẩm mỹ của mình. TỪ XEM ĐẾN ĐỒNG HÀNH Trong một thời gian dài, giáo dục di sản thường được tổ chức theo mô hình khá quen thuộc: học sinh, sinh viên đến bảo tàng hoặc di tích, nghe thuyết minh, ghi nhớ thông tin và tham gia các cuộc thi tìm hiểu. Những hình thức này vẫn cần thiết, bởi bảo tàng, di tích và nhà trường có vai trò quan trọng trong việc cung cấp tri thức chính xác và hình thành thái độ trân trọng quá khứ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc truyền đạt thông tin, người trẻ rất dễ trở thành người tiếp nhận thụ động. Một chuyến tham quan có thể tạo ấn tượng nhưng chưa chắc tạo được mối liên hệ bền vững với di sản. Điều cần thay đổi là chuyển từ tư duy “đưa người trẻ đến xem di sản” sang tạo điều kiện để họ được tham gia vào đời sống của di sản. Một học sinh tìm hiểu ngôi đình, lễ hội hay nghề truyền thống tại địa phương sẽ dễ nhận ra mối liên hệ giữa lịch sử với cuộc sống hơn là chỉ học dữ kiện trong sách. Một sinh viên đến làng nghề, trò chuyện với nghệ nhân và tham gia một công đoạn chế tác sẽ hiểu phía sau sản phẩm thủ công còn có tri thức, thẩm mỹ và ký ức cộng đồng. Một nhóm bạn trẻ số hóa tư liệu, thiết kế bản đồ di sản hay làm phim ngắn về lịch sử địa phương cũng đang mở thêm những con đường để di sản hiện diện trong xã hội. Tinh thần này phù hợp với cách tiếp cận hiện nay về bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Công ước UNESCO năm 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể nhấn mạnh sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, nhóm và cá nhân sáng tạo, duy trì và trao truyền di sản. Luật Di sản văn hóa năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, tiếp tục tạo khuôn khổ pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh mới. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia thường xuyên, hiệu quả các hoạt động nghệ thuật và giáo dục di sản văn hóa. Điểm đáng chú ý ở đây không chỉ là “được tiếp cận”, mà còn là “được tham gia”. SÁNG TẠO PHẢI BẮT ĐẦU TỪ CHIỀU SÂU VĂN HÓA Người trẻ hôm nay có thể đưa chất liệu truyền thống vào âm nhạc, thời trang, thiết kế, phim ảnh, trò chơi, nội dung số, thực tế ảo hoặc các ứng dụng tương tác. Khả năng kết nối tri thức văn hóa với công nghệ và ngôn ngữ sáng tạo có thể mở rộng công chúng của di sản, nhất là trong môi trường truyền thông cạnh tranh mạnh. Tuy nhiên, đổi mới không đồng nghĩa với việc sử dụng di sản một cách tùy ý. Hoa văn, làn điệu dân gian, nghi lễ, trang phục hay câu chuyện lịch sử đều hình thành trong những bối cảnh văn hóa cụ thể và gắn với cộng đồng nhất định. Nếu chỉ khai thác phần hình thức cho đẹp, lạ hoặc dễ lan truyền mà bỏ qua nguồn gốc, ý nghĩa và quyền của chủ thể văn hóa, việc “làm mới” rất dễ trở thành giản lược hoặc làm sai lệch di sản. Vì vậy, sáng tạo với di sản phải bắt đầu từ nghiên cứu, đối thoại và sự tôn trọng. Người làm nội dung cần biết mình đang kể câu chuyện của ai; nhà thiết kế cần hiểu nguồn gốc của chất liệu mình sử dụng; người làm công nghệ cần bảo đảm dữ liệu chính xác; còn cơ quan chuyên môn và cộng đồng cần chủ động mở nguồn tư liệu, hướng dẫn và tạo không gian để người trẻ được thử nghiệm trong những giới hạn rõ ràng. Cùng với sáng tạo, công nghệ cần được đặt đúng vị trí trong quá trình đưa di sản đến gần người trẻ. Thực tế ảo, thực tế tăng cường, mô hình ba chiều, mã truy cập thông tin hay các nền tảng video ngắn có thể giúp một hiện vật, một không gian lịch sử hoặc một câu chuyện văn hóa tiếp cận công chúng nhanh hơn. Nhưng công nghệ không tự tạo ra chiều sâu văn hóa. Một trải nghiệm hấp dẫn về thị giác chỉ có ý nghĩa khi giúp người xem hiểu thêm, muốn tìm hiểu tiếp và cuối cùng quay trở lại với con người, không gian, kỹ năng và ký ức thật của di sản. n Hình ảnh trong concert Thanh Xuân do báo Tiền Phong tổ chức ẢNH : TIỀN PHONG ĐỂ NGƯỜI TRẺ KỂ CÂU CHUYỆN DI SẢN Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có thể đảm nhận một vai trò chủ động hơn. Không nên chỉ dừng ở việc vận động đoàn viên tham quan di tích hay tổ chức các cuộc thi tìm hiểu theo đợt. Với mạng lưới rộng trong trường học, cơ quan và địa phương, Đoàn trở thành cầu nối giữa người trẻ với bảo tàng, nghệ nhân, nhà nghiên cứu và các không gian sáng tạo; hỗ trợ những dự án về số hóa di sản địa phương, bản đồ ký ức, sản phẩm truyền thông, câu lạc bộ cổ phục, trải nghiệm làng nghề hoặc thiết kế ứng dụng phục vụ tham quan. Khi người trẻ đảm nhận một công việc cụ thể và nhìn thấy sản phẩm của mình có ích cho cộng đồng, giáo dục truyền thống sẽ bớt tính áp đặt và trở thành quá trình tự khám phá, sáng tạo. n TS LÊ THỊ THU PHƯỢNG (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) Di sản chỉ thực sự sống khi được thế hệ hôm nay tiếp nhận và tiếp nối. Muốn người trẻ đến gần di sản, không thể chỉ trông chờ vào những chuyến tham quan bảo tàng; cần tạo cơ hội để họ trải nghiệm, sáng tạo và kể tiếp câu chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ của thời đại mình. Tái hiện ngày Toàn quốc kháng chiến tại Hà Nội (12/1946) trong Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ẢNH: N.T Hòa Minzy đạt 200 triệu lượt xem trong Bắc Bling VIẾT TIẾP TƯƠ NG LAI
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==