TIỀN PHONG SỐ ĐẶC BIỆT 2/9/2026

15 2 9 CON SỐ KHÔNG BIẾT NÓI DỐI Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo ông, KHCN và chuyển đổi số đóng vai trò như thế nào trong việc nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và tạo ra các động lực tăng trưởng mới? Chúng ta hãy bắt đầu bằng con số, vì con số không biết nói dối. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, quy mô nền kinh tế vượt 514 tỷ USD và GDP đầu người 5.026 USD; năng suất lao động đạt 245 triệu đồng/lao động, tăng 6,83%. Sáu tháng đầu năm nay, GDP tăng 8,18% - cao nhất kể từ năm 2011; vốn FDI đăng ký 34,65 tỷ USD, tăng 61%. Nhưng mục tiêu Quốc hội giao năm 2026 là từ 10% trở lên, với năng suất lao động tăng khoảng 8,5%. Gần hai điểm phần trăm còn thiếu ấy chính là chỗ khoa học, công nghệ phải trả lời. Vì sao? Vì hai động lực truyền thống đã tới hạn. Vốn không thể mãi tăng hai con số mà không gây mất cân đối vĩ mô. Lao động thì Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số, dư địa tăng số lượng gần như không còn. Khi vốn và lao động đã huy động tới hạn, chỉ còn một nguồn tăng trưởng duy nhất: năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nghị quyết 57 đặt mục tiêu TFP đóng góp trên 55% vào tăng trưởng đến năm 2030 - không phải chỉ tiêu kỹ thuật, mà là mệnh lệnh sống còn. Tuy nhiên, cũng phải nói thẳng, chúng ta đứng đầu thế giới về chỉ số xuất, nhập khẩu công nghệ cao, nhưng thứ hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu vẫn dừng ở 44/139, nhóm đầu ra còn tụt nhẹ. Nghĩa là ta giỏi lắp ráp công nghệ của người khác hơn là tạo ra công nghệ của mình. Tăng trưởng 10% mà vẫn dựa trên gia công thì đó là con số đẹp trên giấy chứ chưa phải sức mạnh thật. Cho nên câu hỏi không phải “làm sao đạt 10%”, mà là “10% ấy làm bằng chất liệu gì”. Chỉ khi mỗi điểm phần trăm tăng trưởng đều mang hàm lượng tri thức Việt Nam, con số hai chữ số mới thực sự bền vững. NGHẼN Ở KHÂU TIÊU TIỀN Vậy đâu là “điểm nghẽn” cần tháo gỡ, thưa ông? Sau hơn 18 tháng thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, khung pháp lý cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về cơ bản đã hình thành. Cho nên, vấn đề là ở khoảng cách giữa văn bản và thực tiễn. Trong đó, điểm nghẽn đầu tiên là ở khâu tiêu tiền, chứ không phải thiếu tiền. Năm 2026, tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ khoảng 103.000 tỷ đồng, nhưng còn khoảng 18.000 tỷ đồng chưa phân bổ được vì chưa có đề xuất nhiệm vụ. Đây là nghịch lý: đất nước còn nhiều khó khăn vẫn dành tối thiểu 3% tổng chi ngân sách cho lĩnh vực này, vậy mà tiền nằm đó không giải ngân nổi. Nguyên nhân chính, như lãnh đạo Chính phủ đã chỉ rõ, là thiếu chủ động, thiếu quyết liệt và kỷ cương thực thi chưa nghiêm ở các bộ, ngành, địa phương. Kế đến, cơ chế tài chính vẫn quản theo hóa đơn thay vì theo kết quả. Một chi tiết vật tư vài trăm nghìn đồng, một phần mềm vài triệu đồng vẫn có thể làm chậm cả đề tài hàng tỷ đồng chỉ vì thủ tục thanh quyết toán. Nghiên cứu là thăm dò cái chưa biết, nhưng ta lại áp lên nó bộ khung quản lý của một dự án xây lắp. Vòng đời một công nghệ số nay chỉ 6 đến 18 tháng, trong khi quy trình phê duyệt có khi mất từng ấy thời gian. Cùng với đó, cơ chế chấp nhận rủi ro mới chỉ dừng ở nguyên tắc. Nghị quyết 57 nói rất rõ: chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu; miễn trừ trách nhiệm khi thử nghiệm công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới mà thiệt hại do nguyên nhân khách quan. Nhưng để một cán bộ dám ký, cần hơn thế: tiêu chí định lượng thế nào là rủi ro khách quan, quy trình hội đồng đánh giá, chuẩn mực kiểm toán riêng cho hoạt động khoa học. Thiếu những thứ đó, tinh thần dám nghĩ, dám làm sẽ mãi là khẩu hiệu… Do đó, thời gian tới cần nghiên cứu sửa đồng bộ các nghị định, thông tư về đầu tư và thanh quyết toán theo hướng một văn bản sửa nhiều văn bản; chuyển mạnh sang cơ chế quỹ, khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; thiết lập cơ chế mua sắm công cho đổi mới sáng tạo. Tiền chúng ta không thiếu, cái thiếu là con đường để tiền chảy đến đúng nơi tạo ra giá trị. ĐỂ DOANH NGHIỆP “MỞ HẦU BAO” Đầu tư cho KHCN và chuyển đổi số chính là đầu tư cho tương lai, vậy cần có những cơ chế, chính sách gì để thu hút doanh nghiệp, các nhà khoa học và khu vực tư nhân tham gia mạnh mẽ hơn, thưa ông? Nghị quyết 57 đã nêu rõ, chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%. Ngay từ đầu, Đảng đã xác định Nhà nước không phải người chi chính. Ba phần trăm ngân sách - khoảng 103.000 tỷ đồng năm 2026 - chỉ là vốn mồi. Phần lớn cuộc chơi thuộc về doanh nghiệp. Vấn đề là làm sao để họ mở hầu bao? Trước hết, phải làm cho những ưu đãi đã có trở nên dùng được. Chính sách hiện hành thực sự hào phóng: doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ; chi cho R&D được trừ tới 200% chi phí thực tế - bỏ một đồng nghiên cứu được trừ hai đồng khi tính thuế. Thế nhưng, nhiều doanh nghiệp phản ánh hồ sơ rất khó chuẩn bị vì phải tham chiếu cùng lúc Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng nhiều nghị định. Ưu đãi mà doanh nghiệp không với tới thì chỉ đẹp trên giấy. Tôi đề nghị, một đầu mối tiếp nhận, một bộ hồ sơ chuẩn, công khai danh mục chi phí R&D được chấp nhận, chuyển mạnh sang hậu kiểm. Bên cạnh đó, Nhà nước phải trở thành khách hàng đầu tiên. Với một doanh nghiệp non trẻ, một hợp đồng thật với Nhà nước có sức nặng hơn nhiều lần một khoản trợ cấp: nó tạo doanh thu, uy tín và hồ sơ năng lực để bước ra thị trường quốc tế. Đồng thời, phải khơi thông dòng vốn mạo hiểm. Kế đến, phải trả nhà khoa học về đúng vị trí trung tâm. Nghị quyết 57 nêu rõ: cho phép và khuyến khích nhà khoa học thành lập, tham gia điều hành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu; giao quyền tự chủ sử dụng kinh phí. Đó chính là cầu nối phòng thí nghiệm với thị trường. Cùng với đó là cơ chế đặc biệt về nhân tài - thu nhập, nhà ở, thị thực - đủ sức giữ chân người giỏi và kéo trí thức Việt ở nước ngoài trở về. Cảm ơn ông! n LUÂN DŨNG Trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, TS Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tạo ra những động lực tăng trưởng mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là làm sao biến thể chế thành hành động, biến hành động thành giá trị, không để việc thực thi chính sách trở thành “điểm nghẽn”. Nhà khoa học phải được đặt ở vị trí trung tâm (Ảnh minh họa) HÀM LƯỢNG TRI THỨC TRONG TĂNG TRƯỞNG BỨT PHÁ TĂNG TRƯỞNG “Tăng trưởng 10% mà vẫn dựa trên gia công thì đó là con số đẹp trên giấy chứ chưa phải sức mạnh thật. Cho nên câu hỏi không phải “làm sao đạt 10%”, mà là “10% ấy làm bằng chất liệu gì”. Chỉ khi mỗi điểm phần trăm tăng trưởng đều mang hàm lượng tri thức Việt Nam, con số hai chữ số mới thực sự bền vững”. TS TRẦN VĂN KHẢI

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==