9 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Tư n Ngày 17/6/2026 Lê An Phú (70 tuổi, trú thôn Bắc An Bình) nói rằng người dân nơi đây đã quen với cảnh thiếu nước từ lâu. “Bao đời nay vẫn vậy. Sinh ra ở đây thì phải thích nghi để sống. Người dân đảo ít nước nên có khi tính tình khô khan, nhưng lòng dạ thì rộng như biển”, ông Phú cười sảng khoái. Khi được hỏi về việc kiến nghị cải thiện nguồn nước, ông Phú cho biết người dân nhiều lần phản ánh nhưng cũng hiểu những khó khăn của địa phương. Có ai muốn dân khổ đâu. Nhưng làm hạ tầng trên đảo rất tốn kém. Người dân hiểu điều đó nên chỉ mong từng bước một, cuộc sống sẽ khá hơn. Cách nhà ông Phú không xa, chị Bảy Thanh (47 tuổi) đang tất bật pha những ly nước rong mơ phục vụ du khách. Hơn 20 năm làm dâu trên đảo, chị đã quá quen với cuộc sống tiết kiệm nước. “Lúc mới ra đây sống cũng thấy bất tiện lắm. Nhưng rồi mình cũng quen dần. Giờ có nhà máy lọc nước biển thành nước ngọt nên đỡ hơn trước nhiều, nhưng vẫn chưa đủ cho nhu cầu”, chị Thanh nói. Theo chị Thanh, mỗi nhân khẩu trên đảo được cấp định mức khoảng 2m3 nước mỗi tháng từ hệ thống cấp nước tập trung. Với các hộ gia đình bình thường, lượng nước này cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu. Tuy nhiên, đối với những hộ kinh doanh dịch vụ du lịch, homestay hay ăn uống thì lại là câu chuyện khác. Hết nước thì phải mua từ đảo Lớn, nếu dùng quá số lượng quy định sẽ bị phạt nặng “Gia đình tôi có bốn người được khoảng 8 khối nước mỗi tháng. Nấu ăn, tắm giặt thì tạm đủ. Nhưng làm du lịch thì rất khó vì khách cần nhiều nước sinh hoạt hơn. Đó cũng là lý do số lượng cơ sở lưu trú trên đảo Bé chưa thể phát triển mạnh”, chị Thanh chia sẻ. Thực tế, vài năm gần đây, đảo Bé nổi lên như một điểm đến hấp dẫn của du lịch Lý Sơn. Các mô hình homestay, dịch vụ lưu trú và ăn uống phát triển nhanh, tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân. Song cùng với đó là nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng. Ông Nguyễn Văn Huy - Chủ tịch UBND đặc khu Lý Sơn thừa nhận, nước ngọt vẫn là bài toán khó nhất đối với đảo Bé. Không phải địa phương không muốn giải quyết mà là nguồn lực còn hạn chế. Giữa biển khơi, không có nước ngầm nên việc bảo đảm nước sinh hoạt cho người dân rất khó khăn. Chính quyền luôn cố gắng tìm giải pháp để hỗ trợ bà con trong khả năng có thể. Theo ông Huy, để hỗ trợ người dân, từ năm 2012, nhà máy xử lý nước biển thành nước ngọt đã được đưa vào hoạt động tại đảo Bé. Công trình có vốn đầu tư khoảng 1 triệu USD, tương đương hơn 20 tỷ đồng vào thời điểm đó, với công suất thiết kế 200m3 nước mỗi ngày. Nhà máy từng mang lại nhiều kỳ vọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho người dân. Tuy nhiên, trải qua hơn 10 năm vận hành, hệ thống thiết bị đã bị xuống cấp, hư hỏng hoặc thiếu nguồn điện phù hợp, khiến việc cung cấp nước không ổn định. Hiện tại, nhà máy chỉ đủ phục vụ từ 40-50% so với nhu cầu thực tế của người dân. “Chúng tôi cũng đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền quan tâm hỗ trợ kinh phí sửa chữa, nâng cấp để nâng cao khả năng cung cấp nước cho người dân và phục vụ phát triển du lịch”, ông Huy nói thêm. N.N Những năm qua, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan đã triển khai nhiều giải pháp như sửa chữa hệ thống lọc nước, đầu tư thêm bể chứa và hỗ trợ vận chuyển nước trong mùa khô. Dẫu vậy, với đặc thù không có nguồn nước ngầm tự nhiên, bài toán nước ngọt ở đảo Bé vẫn chưa có lời giải căn cơ. và ý nghĩa hơn. Xu hướng này thể hiện qua việc ưu tiên trải nghiệm văn hóa bản địa, khám phá chiều sâu điểm đến cũng như chủ động điều chỉnh lịch trình để thích ứng với các yếu tố môi trường và biến đổi khí hậu”. Đó có thể cũng là lý do các sản phẩm trekking tại Tây Bắc, săn mây ở Tà Xùa, Lảo Thẩn hay các tour trải nghiệm văn hóa địa phương ngày càng được quan tâm. Theo khảo sát của phóng viên Tiền Phong, 8/10 doanh nghiệp lữ hành ở Hà Nội cho biết lượng khách tìm hiểu hoặc đăng ký các chương trình có yếu tố trải nghiệm bản địa tăng rõ rệt trong hai năm gần đây, đặc biệt ở nhóm khách trẻ từ 25-40 tuổi. Khác với giai đoạn trước, khi phần lớn du khách ưu tiên các tour nghỉ dưỡng hoặc tham quan theo lịch trình cố định, nhiều người hiện nay sẵn sàng dành thời gian cho những hoạt động đòi hỏi sự tham gia trực tiếp. Đó có thể là một buổi học nấu món ăn địa phương ở Hội An, một ngày theo chân người dân đi chợ nổi miền Tây, trải nghiệm làm trà ở Thái Nguyên, nhuộm vải chàm ở Tây Bắc hay cùng người dân bản địa tham gia các hoạt động thường nhật. Nếu trước đây các tour du lịch thường được thiết kế theo mô hình đại trà, mùa hè 2026 chứng kiến sự lên ngôi của những hành trình “may đo”. Theo đại diện của TransViet, nhu cầu cá nhân hóa xuất hiện ở hầu hết các nhóm khách, từ gia đình nhiều thế hệ, khách trung niên đến giới trẻ. “Người yêu ẩm thực muốn một hành trình tập trung vào món ăn. Người thích khám phá muốn trekking và trải nghiệm thiên nhiên. Người lớn tuổi quan tâm đến sức khỏe và nhịp độ di chuyển phù hợp. Các gia đình có trẻ em lại ưu tiên tính an toàn và tiện lợi. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cách xây dựng sản phẩm. Thay vì bán một tour cho tất cả mọi người, họ phải tạo ra nhiều lựa chọn hơn cho từng nhóm khách hàng”, TS. Trần Văn Mạnh chia sẻ. Sự thay đổi này có thể nói là thuận nước đẩy thuyền vì các nền tảng công nghệ đang tạo ra những tiện ích chưa từng có. Các nền tảng AI chatbot, ứng dụng thông minh và hệ thống tư vấn tự động đang được nhiều doanh nghiệp triển khai nhằm cá nhân hóa hành trình, hỗ trợ khách hàng 24/7 và tối ưu trải nghiệm trước, trong và sau chuyến đi. Chuyên gia du lịch nhận định, AI rõ ràng đang giúp việc lập kế hoạch trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. HẠ ĐAN Mùa hè 2026 chứng kiến sự lên ngôi của những hành trình “may đo” riêng cho từng nhóm khách Du khách ra tham quan đảo Bé ẢNH: NGUYỄN NGỌC Người dân qua đảo Lớn mua nước về sử dụng ẢNH: NGUYỄN NGỌC CHUYỆN HÔM NAY Đó không đơn thuần là một nhiệm vụ hành chính hay công việc chuyên môn. Đó là trách nhiệm với lịch sử, là đạo lý của dân tộc và là sự tri ân đối với những người đã hiến dâng tuổi thanh xuân, thậm chí cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của đất nước. Tôi cũng có người thân là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhiều năm trước, tôi cùng gia đình đi tìm dấu vết của bác và chú tại Nghĩa trang Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, đến vùng đất từng là chiến trường ở Tây Nguyên, hỏi thăm manh mối nơi một người cậu hy sinh ở Cai Lậy (Tiền Giang). Năm ấy, chúng tôi đã đi qua nhiều bản làng xa xôi, được cán bộ địa phương, phòng LĐTB&XH, huyện đội, người dân tận tình giúp đỡ. Có già làng ở Buôn Hồ dẫn chúng tôi lên những quả đồi cao, những bờ đá có thể là dấu vết công sự sót lại giữa rừng sâu. Thế nhưng, sau bao ngày tìm kiếm, điều nhận lại vẫn là sự lặng im của núi rừng. Chỉ có những hàng cây đứng lặng trên đỉnh núi, những khe suối sâu và những câu chuyện còn dang dở của chiến tranh. Trong các nghĩa trang, chúng tôi gặp rất nhiều phần mộ vô danh, sau này gọi là Liệt sĩ chưa xác định được thông tin. Giấy báo tử của nhiều người chỉ ghi vắn tắt: hy sinh tại chiến trường X, Y, Mặt trận phía Nam. Chừng đó thông tin là chưa đủ để xác định chính xác nơi các anh nằm lại. Câu chuyện của gia đình tôi cũng là câu chuyện của hàng vạn gia đình Việt Nam. Nhiều bậc cha mẹ đã qua đời trong nỗi mong ngóng. Những người anh em, người cháu nay cũng đã bước sang tuổi xế chiều nhưng vẫn đau đáu một câu hỏi: người thân của mình đang nằm ở đâu? Chính vì vậy, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ hôm nay mang ý nghĩa đặc biệt. Mỗi hài cốt được tìm thấy, được xác định danh tính, là một người con được trở về với quê mẹ. Mỗi kết quả giám định ADN thành công là một gia đình được khép lại hành trình chờ đợi kéo dài hàng chục năm. Đó không chỉ là thành tựu của khoa học công nghệ mà còn là sự tiếp nối của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Phát biểu tại Hội thảo đặc biệt xác minh thông tin về khu mộ liệt sĩ tập thể tại Công viên Lê Thị Riêng (TPHCM), Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà xúc động: “Chiến dịch đang thôi thúc chúng ta từng ngày, từng giờ, từng phút! Mỗi thông tin được kiểm chứng, mỗi tư liệu được đối chiếu, mỗi ký ức được nhắc lại hôm nay đều mang ý nghĩa rất đặc biệt để mong được đón các Anh hùng trở về cùng đất Mẹ và đồng đội, để lời một ca khúc tha thiết “về đây các anh ơi, hãy về đây, về nghe mẹ ru, về nghe em hát” được trở thành hiện thực!”. Một dân tộc biết tri ân quá khứ mới có thể vững vàng bước tới tương lai. Việc tìm kiếm, trả lại tên cho các liệt sĩ không chỉ là hành động dành cho những người đã khuất mà còn là lời nhắc nhở đối với những người đang sống về giá trị của hòa bình, độc lập và lòng biết ơn. Chừng nào vẫn còn những người con của Tổ quốc chưa được trở về với tên tuổi của mình, hành trình ấy vẫn tiếp tục. Bởi trong tâm thức người Việt Nam, những người đã hiến dâng thân mình cho đất nước không bao giờ bị lãng quên. N.T Đền ơn đáp nghĩa TIẾP THEO TRANG 1 Tài nguyên không thể sao chép Theo TS. Trần Văn Mạnh, không phải ngẫu nhiên mà nhiều địa phương hiện nay lựa chọn phát triển du lịch gắn với di sản, làng nghề, văn hóa bản địa hay các hoạt động cộng đồng. Trong bối cảnh hạ tầng, khách sạn hay khu vui chơi ngày càng dễ được đầu tư và sao chép, lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của một điểm đến lại nằm ở những giá trị không thể di dời. Một khu nghỉ dưỡng ven biển có thể được xây mới ở nhiều nơi, nhưng một làng gốm tồn tại hàng trăm năm, một lễ hội dân gian được gìn giữ qua nhiều thế hệ hay một tập quán sinh hoạt gắn với đời sống cộng đồng thì không thể nhân bản theo cách tương tự. Với du khách hiện đại, đặc biệt là nhóm khách có khả năng chi tiêu cao, điều hấp dẫn không chỉ là cảnh đẹp mà còn là cơ hội được tiếp xúc với những câu chuyện, con người và giá trị văn hóa chỉ có thể tìm thấy ở một địa phương cụ thể. Đây cũng là lý do nhiều chuyên gia xem văn hóa bản địa là “tài nguyên không thể sao chép” của ngành du lịch.
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==