Báo Tiền Phong số 136-137

CANNES MỞ RA MỘT VỊ TRÍ KHÁC CHO PHIM VIỆT Tại Chợ phim Cannes năm nay, điện ảnh Việt Nam đã được một số chuyên trang uy tín của Mỹ quan tâm đưa tin. Ngay trong ngày khai mạc, Deadline gọi Việt Nam là “một trong những thị trường phim tiềm năng tại Đông Nam Á” khi đưa tin về loạt dự án mới của nhà sản xuất Phí Phông: Quỷ máu rừng thiêng. Trang Variety chú ý tới Trấn yểm vì chất liệu bùa Lỗ Ban và xu hướng phim kinh dị giả tài liệu châu Á đang tăng sức hút toàn cầu. Điều đáng nói nữa là lần này phim Việt được chú ý không phải vì những định dạng đã ăn sâu bén rễ như: nghèo khó, chiến tranh hay tính độc lạ phương Đông kiểu du lịch. Báo chí nước ngoài quan tâm tới khả năng thương mại và cách các nhà sản xuất Việt bắt đầu nghĩ tới khán giả toàn cầu ngay từ giai đoạn phát triển dự án. Phải biết rằng, trong nhiều năm, điện ảnh Việt bước ra quốc tế bằng tâm thế khá lúng túng. Hoặc “vị nghệ thuật” đến mức tách khỏi khán giả nội địa, hoặc quá nội địa đến mức không ai bên ngoài hiểu mình đang kể gì. Ngược lại, các dự án được giới thiệu tại chợ phim Cannes năm nay đều có chiến lược “câu khách” rõ ràng. Vùng trời lửa của đạo diễn Lê Thanh Sơn (dự kiến ra rạp vào dịp 30/4/2027) chọn hướng phim chiến tranh, hành động quy mô lớn với cảm hứng từ câu chuyện của phi công Nguyễn Thành Trung. Loạn thế do đạo diễn Dương Minh Chiến thực hiện (dự kiến khởi chiếu dịp Tết Nguyên đán 2027), khai thác lịch sử Việt Nam theo mô hình phiêu lưu, hành động pha hài. Ma binh (đạo diễn Đinh Thái Thụy) và Trấn yểm (đạo diễn Trần Hữu Tấn) tiếp tục tận dụng thế mạnh kinh dị dân gian, thứ đang trở thành đặc sản xuất khẩu mới của điện ảnh châu Á. Nhà phê bình Nguyễn Phan Dương nhận định: “Có thể chất lượng từng phim còn phải chờ kiểm chứng, nhưng ít nhất người ta đã bắt đầu hiểu Cannes không phải nơi đem phim tới để giao lưu văn hóa. Đây là một thị trường điện ảnh đúng nghĩa. Phim phải có định vị rõ ràng, phải khiến đối tác phát hành hình dung được khán giả của nó là ai và khả năng thương mại nằm ở đâu”. Theo ông Dương, điện ảnh Việt nhiều năm qua thường mắc một lỗi khá phổ biến là cố tình quốc tế hóa bằng cách nhét phong cảnh, áo dài, làng quê, chiến tranh rồi chờ khán giả nước ngoài tự xúc động. Nhưng phong cảnh đẹp hay chất liệu bản địa chỉ giúp phim được chú ý vài phút đầu. Muốn phim đi xa hơn, các nhà làm phim bắt buộc phải trưng ra được năng lực kể chuyện và cá tính điện ảnh. Đây là cách mà Hàn Quốc và Nhật Bản đã làm rất tốt. Họ giữ văn hóa bản địa rất mạnh, nhưng luôn kể bằng cấu trúc phổ quát. Ký sinh trùng (Parasite, Cành cọ vàng 2019) chẳng hạn, nó là câu chuyện rất Hàn Quốc về bất bình đẳng giai cấp, nhưng cách xây dựng kịch tính khiến khán giả toàn cầu đều hiểu. Hay Kẻ trộm siêu thị (Shoplifters, Cành cọ vàng 2018) cực kỳ Nhật Bản trong tiết tấu và cảm xúc, nhưng vẫn chạm tới khán giả quốc tế nhờ chiều sâu tâm lý và ngôn ngữ điện ảnh hiện đại. RA THẾ GIỚI KHÔNG THỂ CHỈ NHỜ FOLKLORE Phim Việt từng có những khoảnh khắc rực sáng ở các liên hoan phim quốc tế, nhưng phần lớn vẫn mang tính đơn lẻ. Mùi đu đủ xanh của Trần Anh Hùng giành Caméra d’Or tại Cannes năm 1993 và được đề cử Oscar Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc. Xích lô cũng của đạo diễn này thắng Sư tử vàng tại Venice năm 1995. Ba mùa của Tony Bùi đoạt giải lớn tại Sundance. Những năm gần đây, phim Việt tiếp tục xuất hiện tại các liên hoan phim quốc tế với Ròm của đạo diễn Trần Thanh Huy thắng giải New Currents tại Busan, Tro tàn rực rỡ của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên giành giải Montgolfière d’Or tại LHP Ba châu lục, Mưa trên cánh bướm của đạo diễn Dương Diệu Linh đã giành hai giải thưởng tại Tuần lễ Phê bình phim quốc tế thuộc Liên hoan phim Venice, hay Bên trong vỏ kén vàng của đạo diễn Phạm Thiên Ân thắng Caméra d’Or tại Cannes 2023. Nhưng trên thực tế, rất ít phim trong số đó tạo được ảnh hưởng thương mại dài hạn hoặc mở ra làn sóng điện ảnh mới. Chưa kể phim đoạt giải quốc tế thường gặp khó ở phòng vé nội địa. Ngược lại, phim thắng lớn ở phòng vé trong nước lại hiếm khi đi xa. Hai dòng chảy này gần như tách biệt. Một trong những xu hướng dễ nhận thấy tại Chợ phim Cannes năm nay là sự xuất hiện dày đặc của phim kinh dị dân gian Việt Nam. Từ Ma binh, Trấn yểm cho tới nhiều dự án đang phát triển, yếu tố tín ngưỡng bản địa, truyền thuyết dân gian và các mô típ tâm linh Việt đang trở thành “hàng hot” được các nhà sản xuất tích cực mang ra giới thiệu với đối tác quốc tế. Điều này dễ hiểu bởi kinh dị đang là dòng phim châu Á dễ xuất khẩu nhất vì chi phí sản xuất vừa phải, ít phụ thuộc ngôn ngữ và dễ tạo tò mò với khán giả toàn cầu. Nhật Bản từng có làn sóng J-horror, Hàn Quốc nhiều năm nay cũng liên tục đưa phim kinh dị, giật gân ra thị trường quốc tế. Việt Nam rõ ràng đang muốn chen chân vào dòng chảy đó bằng chất liệu tín ngưỡng và folklore riêng. Nhà sản xuất Hoàng Quân cho rằng, khán giả quốc tế hiện không thiếu phim kinh dị, nhưng họ vẫn tò mò với những niềm tin và nỗi sợ mang tính bản địa. “Bùa chú, trấn yểm, tín ngưỡng dân gian hay kiến trúc tâm linh của Việt Nam vẫn còn khá mới với nhiều thị trường. Đó là lý do các đối tác nước ngoài quan tâm”, ông nói. Tuy nhiên, chính sự thuận lợi ấy cũng dễ tạo ra một vùng an toàn mới. Theo nhà phê bình Nguyễn Phan Dương, một trong những ngộ nhận phổ biến của điện ảnh Việt hiện nay là đồng nhất bản sắc văn hóa với giá trị điện ảnh. Ông cho rằng, nhiều nhà làm phim vẫn tin chỉ cần đưa lên màn ảnh vài biểu tượng quen thuộc như tín ngưỡng dân gian, chiến tranh, áo dài, phố cổ hay đời sống làng quê thì phim sẽ tự nhiên trở nên hấp dẫn với thế giới. Nhưng theo ông, điều khiến một bộ phim đi xa chưa bao giờ nằm ở số lượng chi tiết mang tính bản địa. “Cannes hay các chợ phim lớn không hoạt động theo tâm lý sưu tầm sự lạ. Họ xem hàng trăm phim mỗi năm, từ Iran, Hàn Quốc, Nhật Bản tới Mỹ Latin. Điều họ tìm kiếm là một giọng kể riêng, một năng lực điện ảnh đủ mạnh để biến câu chuyện địa phương thành cảm xúc phổ quát”, ông Dương nói. Điện ảnh Hàn Quốc không thành công toàn cầu vì kimchi, hanbok hay văn hóa thần tượng. Nhật Bản cũng không được nhớ tới chỉ vì geisha hay samurai. “Khán giả quốc tế không mua vé để học địa lý hay xem catalogue văn hóa. Họ ở lại với một bộ phim vì cách nó tổ chức cảm xúc, xây dựng nhân vật và tạo ra ám ảnh điện ảnh”, ông Dương nhận định. n 16-17/5/2026 www.tienphong.vn VĂN HÓA 7 KHÔNG ÍT PHIM VIỆT ĐẠT DOANH THU TRĂM TỶ ĐỒNG TRONG NƯỚC, NHƯNG TỚI CÁC CHỢ PHIM QUỐC TẾ VẪN LOAY HOAY Ở VỊ TRÍ CỦA MỘT NỀN ĐIỆN ẢNH “CÓ TIỀM NĂNG”. THỰC CHẤT, ĐÂY LÀ CÁCH NÓI LỊCH SỰ MÀ GIỚI LÀM NGHỀ THƯỜNG DÙNG CHO NHỮNG NỀN CÔNG NGHIỆP ĐIỆN ẢNH CHƯA THẬT SỰ TRƯỞNG THÀNH. NHƯNG TẠI CHỢ PHIM CANNES 2026, LẦN ĐẦU TIÊN TRUYỀN THÔNG NƯỚC NGOÀI BẮT ĐẦU NHÌN PHIM VIỆT NHƯ MỘT HỆ SINH THÁI ĐANG CHUYỂN ĐỘNG THẬT SỰ, CHỨ KHÔNG CHỈ LÀ VÙNG TRŨNG ĐIỆN ẢNH CỦA ĐÔNG NAM Á. Phim Việt HẠ ĐAN Những phim Việt tham gia Chợ phim Cannes 2026 Trong khuôn khổ LHP Cannes 2026 (diễn ra từ ngày 12-23/5) và Chợ phim Cannes (Marché du Film), đơn vị phát hành phim của Việt Nam đã giới thiệu các phim Việt mới nhất đến thị trường quốc tế như: Nghỉ hè sợ nghỉ hưu, Lên hương, Trại giam hạnh phúc, Sơn, Người được chọn, Trên con đường mới... Chợ phim Cannes được xem là thị trường điện ảnh lớn nhất thế giới, mỗi năm thu hút hơn 14.000 chuyên gia ngành phim từ hơn 140 quốc gia gặp gỡ để mua bán bản quyền, tìm nhà đầu tư, phát hành và hợp tác sản xuất. Vì thế, việc một dự án được chú ý tại Chợ phim thường đồng nghĩa với việc bộ phim bắt đầu lọt vào radar của các nhà phát hành, nền tảng streaming và các quỹ đầu tư quốc tế, từ đó mở ra khả năng bán bản quyền, gọi vốn hoặc tham dự các liên hoan phim lớn khác. ở chợ Cannes Với giới làm nghề, chợ phim Cannes là nơi quyết định một bộ phim có thể đi xa tới đâu sau khi hoàn thành, từ số phận thương mại tới khả năng bước vào mạng lưới điện ảnh toàn cầu

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==