Báo Tiền Phong số 135

Ít ai biết rằng hơn nửa thế kỷ trước, Singapore đầy rẫy hàng rong tự phát. Người bán mì kéo xe giữa đường, người gánh hoa quả chiếm lối đi bộ, quầy đồ ăn dựng sát cống thoát nước. Mùi thức ăn, khói than và rác thải từng là một phần quen thuộc của đời sống đô thị Singapore những năm 1950-1960, theo Culturepaedia - kho lưu trữ trực tuyến song ngữ (tiếng Anh và tiếng Trung) chuyên về văn hóa Trung Quốc tại Singapore. Ở nhiều thành phố của Trung Quốc cũng vậy. Bắc Kinh, Thượng Hải hay Thâm Quyến từng chứng kiến vô số người nhập cư nghèo sống dựa vào những xe hàng nhỏ bên lề đường. Họ bán bánh bao, xiên nướng, rau củ, đồ gia dụng giá rẻ cho công nhân, người lao động. Nhưng cùng với sự phát triển kinh tế và tốc độ đô thị hóa chóng mặt, một câu hỏi cấp thiết đặt ra là làm sao để thành phố hiện đại hơn mà không đẩy người nghèo ra khỏi cuộc mưu sinh? SINGAPORE: TỪ XÓA SỔ HÀNG RONG ĐẾN BẢO TỒN VĂN HÓA HAWKER Theo Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Singapore (NAS), vào thập niên 1960, đảo quốc này có hơn 25.000 người bán hàng rong hoạt động trên đường phố. Chính quyền xem đây là nguyên nhân gây mất vệ sinh, ùn tắc giao thông và nguy cơ dịch bệnh. Những quầy thức ăn không có nước sạch hay hệ thống xử lý rác bị coi là hình ảnh đối lập với giấc mơ về một Singapore hiện đại. Tuy nhiên, thay vì chỉ dùng biện pháp cưỡng chế, chính phủ của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu đã chọn một hướng đi khác: Đưa người bán hàng rong vào các trung tâm văn hóa ẩm thực đường phố/bán hàng rong (hawker) được quy hoạch bài bản. Những trung tâm hawker đầu tiên được xây dựng gần các khu dân cư đông đúc và nhà ga. Ở đó có điện, nước, hệ thống xử lý nước thải, khu vực vệ sinh và lực lượng dọn dẹp thường xuyên. Người bán được cấp giấy phép hoạt động hợp pháp với mức thuê quầy tương đối thấp. Một người bán mì được báo Singapore The Straits Times dẫn lời kể rằng, ngày còn bán ngoài đường, ông phải lo cảnh sát đuổi, trời mưa là nghỉ bán, thức ăn dễ ôi thiu. Khi chuyển vào trung tâm hawker, thu nhập không tăng vọt ngay lập tức nhưng ổn định hơn nhiều. Quan trọng hơn, khách hàng cũng cảm thấy yên tâm hơn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Dần dần, trung tâm hawker không chỉ là giải pháp quản lý đô thị mà còn trở thành biểu tượng văn hóa của Singapore. Năm 2020, văn hóa hawker của Singapore được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Những món ăn bình dân như cơm gà Hải Nam, laksa (mì nước cay phổ biến ở Singapore, Malaysia, Indonesia) hay cháo ếch không biến mất khỏi đời sống đô thị; chúng chỉ chuyển từ vỉa hè lộn xộn sang một không gian có tổ chức hơn. Điều đáng nói là Singapore không “đẩy” người bán hàng rong vào ngõ cụt. Nhà nước hiểu rằng, đằng sau mỗi xe mì hay gánh hoa quả là cả một gia đình. Vì vậy, việc quản lý đi kèm với hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo vệ sinh an toàn thực phẩm, trợ giúp về giấy phép kinh doanh và cơ hội tiếp cận các mô hình kinh doanh chính thức hơn. Ngày nay, nhiều hawker nổi tiếng thậm chí còn được trao sao Michelin. Có những quầy ăn chỉ rộng vài mét vuông nhưng doanh thu đủ nuôi cả gia đình và trở thành thương hiệu nổi tiếng trong và ngoài nước. TRUNG QUỐC: CÂN BẰNG GIỮA DẸP VỈA HÈ VÀ GIỮ KẾ SINH NHAI Nếu Singapore là mô hình quy hoạch tập trung tương đối đồng bộ, thì câu chuyện ở Trung Quốc phức tạp hơn nhiều bởi quy mô dân số và khoảng cách giàu nghèo rất lớn. Trong nhiều năm, lực lượng quản lý đô thị gọi là “chengguan” nổi tiếng với các chiến dịch dẹp hàng rong mạnh tay tại các đô thị lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến... Các xe bán đồ ăn, quầy hàng nhỏ gần ga tàu điện hay khu du lịch thường bị yêu cầu di dời nhằm giữ hình ảnh thành phố văn minh, theo nhà xuất bản MDPI có văn phòng ở Bắc Kinh, Vũ Hán, Thiên Tân và Nam Kinh. Trên mạng xã hội Trung Quốc từng lan truyền không ít đoạn video về cảnh người bán hàng rong vội vàng kéo xe chạy khi thấy lực lượng quản lý xuất hiện. Những hình ảnh ấy gây tranh cãi gay gắt. Một bộ phận người dân ủng hộ việc lập lại trật tự đô thị, nhưng cũng có nhiều người cảm thấy thương cảm cho tầng lớp lao động nhập cư. Hàng rong ở Trung Quốc không chỉ là câu chuyện của vài chiếc xe đẩy. Đó là “kinh tế vỉa hè” - nguồn sống của hàng triệu người dân nghèo từ nông thôn lên thành phố. Sau đại dịch COVID-19, thái độ của nhiều địa phương bắt đầu thay đổi. Năm 2020, Thủ tướng Trung Quốc khi đó là Lý Khắc Cường từng công khai ca ngợi “kinh tế hàng rong” vì khả năng tạo việc làm nhanh chóng cho người dân. Truyền thông Trung Quốc khi ấy nhắc nhiều đến cụm từ “địa khí” - tức sức sống bình dân của thành phố. Nhiều đô thị bắt đầu áp dụng mô hình linh hoạt hơn. Thay vì cấm tuyệt đối, họ quy hoạch các tuyến phố đêm, khu chợ tạm, hoặc cho phép bán hàng vào những khung giờ nhất định, ví dụ sau 6 giờ chiều. Một số nơi yêu cầu người bán cam kết dọn vệ sinh, phân loại rác và không lấn chiếm lòng đường. Ở Thành Đô, chính quyền thành phố từng cho phép hàng chục nghìn quầy hàng hoạt động hợp pháp trong các khu vực được chỉ định nhằm kích thích kinh tế sau đại dịch. Thành phố vẫn giữ được những đại lộ sạch sẽ ở khu trung tâm tài chính, trong khi các khu phố đêm lại trở thành điểm hút khách du lịch. THÁI AN 6 n Thứ Sáu n Ngày 15/5/2026 XÃ HỘI Khách hàng dùng bữa trưa tại trung tâm ẩm thực đường phố ABC Brickworks ở Singapore ngày 29/8/2018 ẢNH: THE STRAITS TIMES Buổi sáng ở khu Chinatown của Singapore, người ta dễ dàng bắt gặp cảnh những cụ già thong thả ngồi ăn cháo cá, nhâm nhi cà phê kopi trong các trung tâm văn hóa ẩm thực đường phố/bán hàng rong (hawker center) với sàn nhà khô ráo, không một túi rác trên lối đi. Chỉ cách đó vài tuyến phố, những vỉa hè sạch sẽ đủ rộng cho xe lăn, người già và trẻ nhỏ đi lại thoải mái. Câu chuyện của bà Vương, một phụ nữ nhập cư bán bánh nướng tại Thượng Hải, được báo chí Trung Quốc kể lại khá điển hình. Trước đây, bà thường phải bán lén lút ngoài ga tàu điện. Sau này, chính quyền địa phương mở một khu chợ đêm có đăng ký, bà thuê được một quầy nhỏ cố định. “Ít nhất tôi không còn phải vừa bán vừa nhìn ngó xem có ‘chengguan’ tới kiểm tra không”, bà nói. Singapore, Trung Quốc đã làm gì với người bán rong? CHUYỆN HÔM NAY Nó là va chạm giữa ba thứ: sinh kế của người dân, bộ mặt văn minh đô thị và năng lực quản trị của chính quyền. Ở Hà Nội, vỉa hè vốn mang tính “đa chức năng”. Buổi sáng bán xôi, trà đá, trưa gửi xe, tối thành quán bia hơi. Có những con phố nếu dẹp sạch thì thông thoáng thật, nhưng cũng mất luôn cái hồn phố. Người Hà Nội sống với vỉa hè như một phần văn hóa. Từ thời bao cấp đã thế. Thành ra mỗi lần ra quân “đòi lại vỉa hè” thường rầm rộ lúc đầu, sau đó lại tái lấn chiếm vì nhu cầu mưu sinh và vì quản lý thiếu bền vững. Còn ở TPHCM thì câu chuyện khác chút. Đô thị này có nhịp sống thương mại mạnh hơn, mật độ xe cộ khủng khiếp hơn, nên áp lực lên vỉa hè rất lớn. Nhiều người còn nhớ chiến dịch của ông Đoàn Ngọc Hải hồi 2017. Khi đó cả nước xôn xao vì hình ảnh xuống đường cẩu xe, tháo bậc tam cấp, xử lý cả nhà hàng lớn lẫn xe biển xanh. Nó tạo cảm giác lần đầu tiên có người “làm thật”. Nhưng rồi sau một thời gian, câu chuyện lại quay về bài toán cũ: Dẹp hoàn toàn thì hàng chục nghìn lao động nhỏ sống bằng gì? Cho sử dụng thì quản lý kiểu nào để không biến thành hỗn loạn? Vỉa hè là của người đi bộ, nhưng đô thị Việt Nam lại thiếu không gian công cộng và thiếu bãi đỗ xe nghiêm trọng. Thế nên bây giờ tư duy quản lý đang dần đổi khác. Không chỉ “cấm hay không cấm”, mà là: chỗ nào được kinh doanh, kinh doanh khung giờ nào, diện tích bao nhiêu, có trả phí hay không, tiêu chuẩn vệ sinh, phòng cháy, mỹ quan ra sao. TPHCM từng thí điểm cho thuê một số vỉa hè có thu phí để khai thác có kiểm soát. Phường An Đông sẽ đưa phần mềm vào quản lý, cấp phép và thu phí sử dụng tạm thời vỉa hè, lòng đường. Hà Nội sau bao năm loay hoay giữa bảo tồn “văn hóa phố” và yêu cầu đô thị hiện đại, tới đây dự kiến cho thuê vỉa hè để kinh doanh tại một số tuyến phố trên địa bàn phường Hoàn Kiếm, phường Cửa Nam. Nhưng cái khó nhất là Việt Nam chưa thật sự quy hoạch đô thị cho người đi bộ. Nhiều nơi gọi là vỉa hè nhưng hẹp đến mức hai người tránh nhau còn khó. Có nơi gọi là vỉa hè nhưng chỉ rộng hơn mét, bị cây xanh, cột điện, bãi giữ xe chiếm gần hết. Xe máy leo lên vỉa hè như phản xạ sinh tồn giữa dòng xe đông đặc. Thành ra người đi bộ lại phải đi xuống lòng đường - rất nghịch lý. Vì thế, giải pháp không thể chỉ là những đợt “ra quân”. Điều cần hơn là một triết lý quản lý mới: xem vỉa hè là không gian công cộng cần được tổ chức khoa học, thay vì chỉ xử lý bằng biện pháp hành chính. Những tuyến phố đủ rộng có thể cho phép khai thác kinh doanh có kiểm soát. Khu vực nào được bán hàng, diện tích bao nhiêu, hoạt động theo khung giờ nào phải được quy định rõ ràng. Người sử dụng cần đăng ký, đóng phí và tuân thủ tiêu chuẩn vệ sinh, phòng cháy, mỹ quan đô thị. Phần còn lại phải ưu tiên tuyệt đối cho người đi bộ. Quan trọng hơn, cần quy hoạch lại hạ tầng đô thị theo hướng văn minh hơn: mở rộng không gian công cộng, phát triển phố đi bộ, bãi đỗ xe ngầm, giao thông công cộng hiệu quả để giảm áp lực lên mặt đường và vỉa hè. Khi người dân có lựa chọn thuận tiện hơn, tình trạng lấn chiếm mới giảm bền vững. Một thành phố hiện đại không phải nơi sạch bóng hàng rong hay lạnh lẽo như những khối bê tông vô cảm. Đô thị văn minh là nơi trật tự và hơi thở đời sống có thể cùng tồn tại. Vỉa hè cần được trả lại cho người đi bộ, nhưng cũng cần giữ được nhịp sống rất riêng của phố phường Việt Nam - nơi còn mùi cà phê sớm, tiếng rao khuya và những câu chuyện đời thường ngồi sát bên nhau dưới một tán cây. N.T Vỉa hè không chỉ để đi bộ TIẾP THEO TRANG 1

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==