Tiền Phong số 90

THỨ HAI 31/3/2025 SÕ 90 0977.456.112 Các vận động viên chạy qua cầu An Lạc, địa danh nổi tiếng của Quảng Trị ẢNH: P.V CA “KHÚC KHẢI HOÀN” Các nhà vô địch viết tiếp lịch sử Dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Hoa hậu Việt Nam ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH 4.0: XÓA MỜ KHOẢNG CÁCH ĐỊA LÍ MỞ RỘNG 4 THÀNH PHỐ LỚN: Không chỉ là khẩu hiệu Quản lí siêu đô thị thế nào? Việt Nam cử lực lượng cứu trợ sang Myanmar TRANG 15 TRANG 3 TRANG 16 Các thí sinh Hoa hậu Việt Nam 2024 lần đầu tham gia Tiền Phong Marathon Chạy giữa lịch sử, Giải Vô địch QuÕc gia Marathon và cự ly dài báo Tiền Phong lần thứ 66 - năm 2025 tại Quảng Trị không chỉ là một cuộc thi tài thể thao, mà còn là hành trình kết nÕi tâm hồn, nơi mỗi vận động viên đều cảm nhận được sự thiêng liêng của lịch sử và giá trị của hòa bình. Những bước chân trên mảnh đất anh hùng này đã góp phần viết tiếp câu chuyện về lòng yêu nước, sự đoàn kết và khát vọng vươn xa của dân tộc Việt Nam. TRANG 8+9+10+11+12 + 13 VĐV Hoàng Thị Ngọc Hoa VĐV Hoàng Nguyên Thanh

2 THỜI SỰ n Thứ Hai n Ngày 31/3/2025 QUAÛNG CAÙO PHAÙT HAØNH Haø Noäi: ÑT: (024)39432758; Fax: (024)39435285 TP.HCM: ÑT: (028)38469860; Fax: (028)38480015 Trong giôø haønh chính (024)39439664 Ngoaøi giôø 0908988666 (Nguyeãn Haèng) n Toång thö kyù toøa soaïn: MINH TOAÛN n Thieát keá : TRUNG DUÕNG n Giaù: 5.500 ñoàng n Ban ñaiï dienä taiï thanø h pho á Ho à Chí Minh: 384 Nam Kyø Khôiû Nghóa, phöônø g 8, Q3. ÑT: (028) 3848 4366, E-mail: tienphonghcm@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï mienà Trung: 19 Ngoâ Gia Tö ï - Ña ø Nanü g, ÑT: (0236)3828 039, E-mail: banmientrung@baotienphong.com.vn n Ban ñaiï dienä taiï Bacé Trung Bo:ä 21 Ho à Xuanâ Höông, TP Vinh, Ngheä An. ÑT: (0238)8602345 n Ban ñaiï dienä taiï ÑBSCL: 103 Tranà Vanê Hoaiø , phöônø g Xuanâ Khanù h, quanä Ninh Kieuà , TP Canà Thô. ÑT: (0292)3823823, Email: baotienphongdbscl@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Nguyenâ va ø Nam Trung Boä : 52 Tranà Nhatä Duatä - TP Buonâ Ma Thuotä - Ñaké Laékê , ÑT: (0262)3950029, E-mail: baotienphongtaynguyen@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Bacé Bo:ä 243 Ngoâ Quyenà , TP Laoø Cai, tænh Laoø Cai. ÑT: 0904938689, E-mail: vptaybacbotp@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Ñonâ g Bacé Bo:ä 18 Le â Thanh Nghò, phöônø g Honà g Ha,ø TP Ha ï Long, tænh Quanû g Ninh; E-mail: bandongbac@baotienphong.com.vn n Toøa soaïn: 15 Hoà Xuaân Höông - Haø Noäi. ÑT: 3943 4031 - 38227526 - 38227524 - 38227525 - 39433216 - 39434302 - 3822 6127, Fax: (024) 39430693 - E-Mail: toasoan@baotienphong.com.vn, ISSN 0866-0827 Website: www.tienphong.vn n Toång Bieân taäp: PHUØNG COÂNG SÖÔÛNG n Phoù Toång bieân taäp: LEÂ MINH TOAÛN n In taiï : Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 1, Cty in baoù Nhanâ Danâ Ña ø Nanü g, Cty TNHH MTV in Ñakê Lakê , Xöônû g in Quanâ khu IV, Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 2, TPHCM 1.500 DỰ ÁN ĐANG GẶP KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC Sáng 30/3, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp với Ban Chỉ đạo về rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án (Ban Chỉ đạo) để nghe báo cáo về tình hình rà soát, đánh giá, tìm giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các dự án đang tồn đọng. Cùng dự có Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo; Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo. Qua rà soát và báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, cả nước có khoảng 1.500 dự án đang gặp khó khăn, vướng mắc, thuộc khoảng 20 nhóm vấn đề khác nhau, trong đó có cả các dự án đầu tư công, dự án đầu tư ngoài ngân sách và các dự án đầu tư theo hình thức PPP. Tuy nhiên, do chất lượng báo cáo của các cơ quan, đơn vị không đồng đều; báo cáo của các địa phương chưa sát thực tế, chưa cung cấp đủ thông tin, số liệu các dự án; vẫn còn tình trạng sợ sai, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm giải pháp xử lý các khó khăn, vướng mắc… nên cần tiếp tục đánh giá thêm và nỗ lực hơn trong xử lý các vướng mắc tại các dự án. Sau khi các đại biểu thảo luận đánh giá kết quả rà soát, cũng như đề xuất các giải pháp xử lý, kết luận cuộc họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, việc giải quyết các khó khăn, vướng mắc tại các dự án tồn đọng có ý nghĩa lớn, vừa tháo gỡ các ách tắc, bức xúc của người dân, doanh nghiệp; vừa giải tỏa được các nguồn lực rất lớn, tạo công ăn việc làm, sinh kế cho người dân từ các dự án này; vừa tạo cảnh quan, vệ sinh môi trường và góp phần chống lãng phí như chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm. Do đó phải xử lý, đưa ngay nguồn lực sẵn có vào khai thác; qua đây cũng xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân để xử lý, góp phần chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Cùng với việc giao Bộ Tài chính xây dựng cơ sở dữ liệu về các dự án khó khăn, vướng mắc kéo dài, phản ánh đúng tình hình, để phân tích được nguyên nhân, đưa ra giải pháp phù hợp khả thi, hiệu quả, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần là phải ưu tiên tháo gỡ chứ không phải để đổ trách nhiệm; tiếp tục hướng dẫn chung cho các bộ, ngành, địa phương dễ làm, dễ xây dựng cơ sở dữ liệu; đặc biệt, cần tập hợp, chỉ rõ các nhóm vấn đề thuộc thẩm quyền xử lý của Chính phủ để xử lý theo phạm vi chức năng, thẩm quyền của Chính phủ. Cho rằng, số dự án khó khăn, vướng mắc có thể chưa thống kê hết, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính cùng Văn phòng Chính phủ dự thảo tiếp một Công điện của Thủ tướng Chính phủ rà soát lại các công việc, định hướng, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục rà soát, đánh giá, phân loại các dự án tồn đọng, vướng mắc, đề xuất các phương án xử lý phù hợp, khả thi, hiệu quả; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/4/2025; nếu không báo cáo đúng ngày này, sau khi “khóa sổ” thì lãnh đạo các địa phương phải chịu trách nhiệm về sau này. Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động đề xuất phương hướng xử lý các giải pháp mà chưa có quy định của pháp luật, gửi Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ để tập hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo. Với mục tiêu là tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, kéo dài, không để lãng phí nguồn lực bao gồm nguồn lực của Nhà nước, nhân dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư; khắc phục được hậu quả, đưa nguồn lực vào phục vụ sự phát triển. Từ đó góp phần huy động nguồn lực cho nền kinh tế tăng trưởng 8% năm 2025 và 2 con số những năm tiếp theo; khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; “không để sai chồng sai, không để tạo tiền lệ cho những cái sai tiếp theo”. “Việc này phải giải quyết công khai, minh bạch và phải có thời hạn; tinh thần là vướng ở cấp nào thì cấp đó giải quyết, thẩm quyền của ai thì người đó phải giải quyết, không được đùn đẩy, né tránh”, Thủ tướng nhấn mạnh. Thủ tướng lưu ý quá trình xử lý cần phân loại, đưa ra nguyên tắc, xác định thẩm quyền; nếu có quy định của pháp luật rồi thì vận dụng giải quyết; nếu vấn đề đặc thù mà chưa có cơ chế thì phải đề xuất cơ chế; phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng, trong sáng; không né tránh; trách nhiệm của ai thì quá trình làm, rõ đến đâu thì xử lý đến đó; không được để lợi dụng tình hình để trục lợi; tinh thần là hướng đến “đầu ra”, không thắt nút. BẢO ĐẢM LỢI ÍCH CHÍNH ĐÁNG, HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI DÂN Đối với những nhóm dự án vướng mắc về giải phóng mặt bằng, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các địa phương, nhất là cấp xã, phường phải giải quyết dứt điểm; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân. Các địa phương căn cứ điều kiện cụ thể, luật pháp, khả năng để quyết định việc hỗ trợ phù hợp; chú ý những điều kiện đặc thù như các hộ nghèo, người có công với cách mạng, người già, khó khăn, yếu thế…; xử lý nghiêm theo pháp luật những trường hợp kích động, trục lợi, gây rối. Đối với nhóm vấn đề liên quan quy hoạch, Thủ tướng yêu cầu rà soát lại quy hoạch, nhất là quy hoạch chuyên ngành, làm căn cứ triển khai các dự án bảo đảm phù hợp, đồng bộ hệ thống quy hoạch chung. Đối với nhóm dự án vướng mắc liên quan pháp luật về đất đai, liên quan kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, cho phép các bộ, ngành, địa phương căn cứ vào chính sách đặc thù đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết 170 và 171/2024/QH15; tổng hợp các khó khăn, vướng mắc tương tự, thuộc thẩm quyền của ai thì đề xuất tiếp tục vận dụng, coi đây là án lệ, miễn là bảo đảm công khai, minh bạch, phân cấp xuống địa phương để xử lý. Đối với nhóm các dự án sai phạm trong quá trình thực hiện, đã được triển khai cơ bản khó thu hồi dự án, Thủ tướng yêu cầu tập trung giải pháp, tháo gỡ khó khăn từ thực tiễn, bảo đảm minh bạch, ai sai thì vẫn phải xử lý, không để lọt sai phạm, không làm thất thoát tài sản của Nhà nước, không ảnh hưởng quyền và lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp; cho thời gian khắc phục khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả, sớm đưa công trình, dự án vào khai thác. Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương chủ động, tích cực, khách quan tháo gỡ theo thẩm quyền, vượt thẩm quyền thì báo cáo cấp thẩm quyền; nỗ lực xử lý dứt điểm trong năm 2025 các dự án này. PV (theo TTXVN) Theo kế hoạch tuyển sinh đầu cấp năm học 2025-2026 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành ngày 30/3, Thành phố sẽ thực hiện cả hai hình thức thi tuyển và xét tuyển để tuyển sinh lớp 10 năm học 2025-2026. Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 công lập của TPHCM sẽ được tổ chức trong 2 ngày 6 và 7/6, với 3 môn Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ. Thí sinh có nguyện vọng vào lớp 10 chuyên hoặc tích hợp sẽ thi thêm môn tương ứng; với thí sinh đăng ký nguyện vọng vào lớp 10 tích hợp mà đã học chương trình này từ cấp trung học cơ sở thì không thi môn tích hợp mà dùng điểm trung bình môn này xét tuyển. Từ năm học 2025-2026, TPHCM dừng tuyển sinh các lớp 10 chuyên ở trong các trường thường. Như vậy, Thành phố chỉ có hai trường chuyên tuyển sinh lớp 10 chuyên là Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong và Trung học phổ thông chuyên Trần Đại Nghĩa. Đáng chú ý, cả hai trường này đều được phép tiếp nhận thí sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở ở các tỉnh, thành phố khác, thay vì chỉ Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong được tuyển sinh phạm vi cả nước như những năm trước. P.V Tại cuộc họp với Ban chỉ đạo về rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu các bộ, ngành, địa phương nỗ lực xử lý dứt điểm trong năm 2025. Nỗ lực xử lý dứt điểm trong năm nay Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng ẢNH: TTXVN TPHCM mở rộng đối tượng thi tuyển lớp 10 chuyên THÁO GỠ VƯỚNG MẮC CHO CÁC DỰ ÁN: “Nguyên tắc là các vấn đề kinh tế phải được xử lý bằng vấn đề kinh tế; việc xử lý bằng biện pháp hình sự chỉ là giải pháp cuối cùng; cách xử lý phải hiệu quả, nhân văn, phù hợp, lấy biện pháp kinh tế là cơ bản” Thủ tướng PHẠM MINH CHÍNH

3 n Thứ Hai n Ngày 31/3/2025 THỜI SỰ SẮP XẾP CÒN 34 TỈNH, THÀNH LÀ PHÙ HỢP Trong buổi gặp mặt cán bộ lão thành cách mạng, người có công, gia đình chính sách tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên mới đây, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, dự kiến, tính toán ban đầu sẽ có 34 tỉnh, thành phố trên cơ sở sắp xếp lại 63 tỉnh, thành phố hiện nay. Ông bình luận thế nào về con số 34 tỉnh, thành sau sắp xếp? So với nhiều nước trên thế giới, nước ta có diện tích nhỏ, quy mô dân số không quá lớn nhưng lại có đến 63 tỉnh, thành phố là quá nhiều. Đáng lưu ý, hiện có nhiều địa phương không đáp ứng đủ tiêu chí về diện tích tự nhiên và quy mô dân số theo Nghị quyết 1211 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. Do đó, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và tổ chức chính quyền địa phương từ mô hình 3 cấp xuống còn 2 cấp (từ cấp tỉnh xuống thẳng cấp xã, không tổ chức cấp huyện) để tinh gọn bộ máy, giảm chi phí hành chính, tạo ra dư địa và không gian phát triển mới là hết sức cấp bách, không thể chậm trễ hơn. Có sắp xếp các tỉnh lại mới tạo ra các nguồn lực mới từ đất đai, con người, hạ tầng để tạo ra sự phát triển mới nhanh hơn và mạnh hơn. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là sắp xếp còn bao nhiêu đơn vị hành chính cấp tỉnh và tỉnh nào nên sáp nhập với tỉnh nào? Theo các tiêu chí định hướng được Bộ Nội vụ nêu trong Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính, dự kiến cả nước có 11 tỉnh, thành giữ nguyên và 52 tỉnh, thành thuộc diện phải sắp xếp. Từ các định hướng trên, căn cứ vào quy hoạch các vùng kinh tế, các đặc điểm xã hội và yêu cầu mới, tôi cho rằng, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh từ con số 63 xuống 34 là phù hợp. Đất nước ta có chiều dài, nếu giảm số tỉnh, thành xuống 25 - 27 đơn vị thì rất khó. Sáp nhập các tỉnh, thành lại với nhau, không chỉ căn cứ vào diện tích, dân số mà còn nhiều tiêu chí khác, như yếu tố lịch sử, truyền thống, văn hóa, dân tộc tương đồng; bảo đảm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế phát triển của mỗi địa phương, hỗ trợ lẫn nhau để thúc đẩy sự phát triển sau sắp xếp… Mặt khác, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh còn phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, đặc biệt xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc tại các địa bàn trọng yếu, khu vực đảo, quần đảo và vùng biên giới… GIỮ NÉT RIÊNG RẤT HUẾ Theo định hướng tiêu chí được Bộ Nội vụ nêu ra, trong 6 thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội và Huế dự kiến giữ nguyên, 4 thành phố còn lại có thể mở rộng, sáp nhập thêm tỉnh. Ông bình luận sao về định hướng đề xuất này? Việc giữ nguyên Hà Nội và Huế là hợp lý. Thứ nhất, Hà Nội mới thực hiện mở rộng từ năm 2008, sau khi hợp nhất với Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và một số xã thuộc tỉnh Hòa Bình. Hiện Hà Nội có dân số khoảng 8,7 triệu người, diện tích tự nhiên ước tính khoảng 3.359 km2. Như vậy, về diện tích và dân số theo quy định Hà Nội đều đáp ứng. Hơn nữa, sau khi được mở rộng, Hà Nội còn rất nhiều dư địa để phát triển, đáp ứng yêu cầu đề ra. Huế cũng mới là thành phố trực thuộc Trung ương từ đầu năm 2025. Với diện tích tự nhiên khoảng 4.947 km2 và quy mô dân số hơn 1,2 triệu người, Huế đáp ứng đủ các tiêu chí theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đặc biệt, mục tiêu của Huế là trở thành thành phố di sản, với những nét rất riêng về văn hóa, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh. Cho nên giữ nguyên Huế là phù hợp, chứ mở rộng, sắp xếp thêm các tỉnh khác, có khi lại làm mất đi những “nét riêng rất Huế”. Với 4 thành phố trực thuộc Trung ương còn lại là TPHCM, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng, nghiên cứu sắp xếp với các tỉnh có vị trí địa lý liền kề, điều kiện tự nhiên, hạ tầng giao thông, sự phân bổ và tổ chức các không gian kinh tế nhằm bảo đảm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế phát triển của mỗi địa phương, hỗ trợ lẫn nhau để thúc đẩy sự phát triển là yêu cầu khách quan. Hiện nay, dư địa để các thành phố lớn trên phát triển nhanh và mạnh không còn nhiều, cần phải mở rộng không gian. Ví dụ như Hải Phòng, nếu xem xét sắp xếp với Hải Dương cũng là phù hợp. Tương tự, Đà Nẵng xem xét sắp xếp với Quảng Nam cũng bảo đảm được các yêu cầu định hướng về sự tương đồng, vì hai địa phương này trước đây vốn là một, có rất nhiều điểm chung. Đặc biệt, với TPHCM, yêu cầu đặt ra là phải phát triển nhanh, nhưng “chiếc áo” của thành phố đã hết sức chật chội. Nếu TPHCM không được mở rộng, với dân số gần 10 triệu người, trong khi diện tích chỉ có hơn 2.000 km2 thì rất khó để có thể giải quyết được các điểm nghẽn về hạ tầng, nhà ở, phát triển công nghệ cao… Cho nên nghiên cứu sắp xếp TPHCM với các tỉnh trong vùng kinh tế Đông Nam bộ như Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, không chỉ giúp giải quyết được các vấn đề ách tắc trong không gian phát triển, nhất là trong lĩnh vực hạ tầng giao thông mà còn mở ra không gian phát triển đô thị, không gian biển, không gian du lịch... ĐẨY MẠNH PHÂN QUYỀN VÀ LỰA CHỌN NGƯỜI TÀI Nếu TPHCM sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu để trở thành siêu đô thị, ngoài những thuận lợi thì giải quyết những thách thức có thể xảy ra trong quản lý siêu đô thị như thế nào, theo ông? Nếu TPHCM sắp xếp với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, đây sẽ trở thành một siêu đô thị với dân số lên đến gần 14 triệu người, còn diện tích là hơn 7.100 km2. Hiện TPHCM và Bình Dương có công nghiệp phát triển, trong khi Bà Rịa - Vũng Tàu có nền kinh tế biển hết sức phát triển. Ngoài ra, TPHCM đang tập trung nguồn lực để phát triển khu vực Cần Giờ như cảng Cần Giờ, hệ thống đường sắt đến Cần Giờ. Như vậy, nếu sắp xếp với Bà Rịa - Vũng Tàu thì TPHCM sẽ có không gian lớn để phát triển hướng ra biển. Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý không chỉ đối với TPHCM mà các thành phố trực thuộc Trung ương khác là khi sáp nhập thêm với 1 - 2 tỉnh nữa, công tác quản lý đối với siêu đô thị thế nào cho phù hợp? Về cơ bản, hiện nay, các thành phố trực thuộc Trung ương đều đã được Quốc hội trao cơ chế đặc thù, vì thế sau khi sắp xếp nên nghiên cứu tiếp tục thực hiện các quy định này. Thứ hai, ngoài thiết chế tổ chức bộ máy, vấn đề con người, công tác cán bộ là hết sức quan trọng để đáp ứng yêu cầu quản lý của một siêu đô thị như TPHCM. TPHCM cần phải có chính sách để trọng dụng cán bộ, thu hút người tài và trả lương một cách xứng đáng. Thứ ba, cần phải phân quyền mạnh hơn cho TPHCM theo đúng tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” để đáp ứng với yêu cầu quản lý và phát triển của một siêu đô thị. Cảm ơn ông VĂN KIÊN (thực hiện) Trong 6 thành phố trực thuộc Trung ương, dự kiến Hà Nội và Huế giữ nguyên, 4 thành phố còn lại, TPHCM, Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng, có thể được mở rộng, sáp nhập thêm tỉnh. Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Tiến Dĩnh (ảnh), nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, cho rằng, việc mở rộng 4 thành phố trực thuộc Trung ương là cần thiết, mở ra không gian và động lực tăng trưởng mới. Tuy vậy, việc này cũng sẽ đặt ra những thách thức nhất định trong quản lý các siêu đô thị, nhất là đối với TPHCM. Bình Dương là tỉnh phát triển mạnh về công nghiệp MỞ RỘNG 4 THÀNH PHỐ LỚN: Sáp nhập để vươn ra biển lớn Theo chinhphu.vn, chiều 29/3, làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng và Ban Thường vụ tỉnh Quảng Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm nói rằng, việc sáp nhập 2 địa phương là cơ hội lịch sử để Quảng Nam và Đà Nẵng cùng xây dựng một trung tâm kinh tế, văn hóa, đổi mới sáng tạo hàng đầu của khu vực, mang trong mình sức mạnh quốc gia trong thời đại mới. “Chúng ta cần phát huy thế mạnh 2 bên, cùng quy hoạch, phát triển với tầm nhìn mới, để vùng đất Quảng Đà thực sự vươn ra biển lớn”, Tổng Bí thư nói, đồng thời khẳng định Đà Nẵng và Quảng Nam mới sau khi sáp nhập sẽ tiếp tục kế thừa các định hướng phát triển, các cơ chế, chính sách đặc thù của Đà Nẵng. Tổng Bí thư đề nghị các cơ quan Trung ương, Quốc hội, Chính phủ tiếp tục quan tâm, hỗ trợ để Đà Nẵng - Quảng Nam mới thực hiện tốt các chủ trương lớn của Đảng, nhất là những đề xuất có tính đột phá về cơ chế tài chính, về quy hoạch, tổ chức bộ máy, thử nghiệm các lĩnh vực mới nhằm tạo động lực phát triển không chỉ cho Đà Nẵng - Quảng Nam mới, mà còn cho cả khu vực miền Trung và đất nước. Quản lí siêu đô thị thế nào? ĐẦU TUẦN rò chuyện T Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những địa phương phát triển kinh tế biển hàng đầu cả nước

Theo PGS. TS Kim Ngọc, liên quan đến thúc đẩy kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian tới, ưu tiên số 1 chính là cải thiện về tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân. Thực tế cho thấy, cho đến nay, mặc dù đã có nhiều cải thiện, nhưng khu vực KTTN, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), gặp quá nhiều rào cản trong việc tiếp cận vốn vay. Cùng với đẩy mạnh chuyển đổi số về quản lí nhà nước đối với doanh nghiệp, cần xây dựng chính sách và cơ chế bảo lãnh tín dụng cởi mở, thông thoáng hơn, thủ tục vay vốn đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện hơn, các kênh tiếp cận tài chính đa dạng hơn cho doanh nghiệp. Điều này đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp trong ngành sản xuất - chế biến có nhu cầu vốn lớn. Chia sẻ về những giải pháp để thúc đẩy khối kinh tế tư nhân, hình thành các tập đoàn tư nhân lớn mạnh, theo bà Ngọc, Việt Nam cần chiến lược dài hạn trong cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, nâng cao chất lượng nhân lực và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Với những chính sách phù hợp, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những doanh nghiệp tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, góp phần đưa nền kinh tế tiến xa hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. “Tôi cho rằng cần có một nỗ lực mạnh mẽ, điều tiết lại, thu hẹp một cách hợp lí dòng vốn đổ vào bất động sản, mở rộng quỹ đầu tư mạo hiểm, ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp phi bất động sản phát hành trái phiếu doanh nghiệp.... Đặc biệt cần có chính sách mạnh mẽ hơn để phát triển thị trường vốn như chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp”, bà Ngọc đề xuất. Bà cũng cho rằng, hiện tại, quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến năm 2023 chỉ đạt khoảng 60% GDP, thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan (120% GDP), Malaysia (140% GDP). Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, để xây dựng các tập đoàn lớn như Samsung, Hyundai, chính phủ nước này đã có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước bằng các gói tín dụng ưu đãi, đồng thời phát triển mạnh thị trường vốn để giúp doanh nghiệp có thêm kênh huy động tài chính dài hạn. Việt Nam cũng cần có chính sách tương tự, như mở rộng các quỹ đầu tư mạo hiểm, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp, và cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ưu đãi. Cùng với mở rộng cải thiện tiếp cận vốn, cần có cơ chế hỗ trợ về tiếp cận đất đai, mặt bằng sản 4 n Thứ Hai n Ngày 31/3/2025 KINH TẾ CẦN ĐỒNG BỘ HÓA CHÍNH SÁCH TỪ NHÀ NƯỚC Chia sẻ với PV Tiền Phong về hành trình từ một xưởng sản xuất nhỏ trở thành nhà sản xuất linh kiện xi lanh trục vít đứng đầu tại Việt Nam và xuất khẩu ra thế giới, ông Nguyễn Xuân Ngọc, Giám đốc Công ty TNHH Kỹ thuật ASG Việt Nam cho biết, phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam là hành trình đầy khổ nhọc với bất cứ doanh nghiệp nào. Theo ông Ngọc, năm 2012, với khát vọng muốn trở thành một công ty có những sản phẩm có vị thế đứng đầu Việt Nam và vươn ra thế giới, ông chính thức bước chân sang làm chủ doanh nghiệp chuyên cung cấp linh kiện máy móc và giải pháp ngành nhựa. Tài sản ban đầu của công ty vỏn vẹn chỉ là kinh nghiệm sâu trong ngành ép nhựa cùng kiến thức nền tảng khi đi làm tại các tập đoàn lớn. Theo ông Ngọc, trong giai đoạn đầu phát triển, thiếu phương tiện công nghệ, thiết bị và vốn luôn là những vấn đề khi công ty đặt mục tiêu vào nghiên cứu các công nghệ chế tạo ra xi lanh trục vít cho máy ép nhựa. Do là ngành khá đặc thù nên dù đã quay trở lại trường ĐH Bách Khoa hỏi các thầy giáo nhưng cũng không tìm được lối ra. Doanh thu những năm đầu của công ty chỉ vài tỷ đồng và đối mặt nhiều khó khăn. Sau một thời gian đặt hàng sản xuất OEM từ một số nhà chế tạo từ Nhật Bản, Đài Loan, công ty xác định phải chuyển hướng sang sản xuất trực tiếp để tránh phụ thuộc nhà cung cấp, giảm giá thành do các sản phẩm với chi phí rẻ hơn nhập khẩu. Dần dần vượt qua trở ngại ở thị trường ngách, sản phẩm của công ty dần được sự tin tưởng của các khách hàng là các công ty Nhật lớn nhất ở Việt Nam. “Tháng 5/2016, chúng tôi thành lập nhà máy gia công CNC, chế tạo theo bản vẽ đặt hàng của khách hàng, tạo tiền đề nghiên cứu chuyên sâu về xi lanh trục vít và chính thức đi vào giai đoạn sản xuất chuyên sâu. Đây là giai đoạn công ty tối ưu được chi phí, bắt đầu bước chân vào sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, áp dụng các công nghệ tiên tiến về vật liệu mới”, ông Ngọc cho hay. Theo lãnh đạo ASG Việt Nam, để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khối công nghiệp hỗ trợ, Nhà nước cần có các chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu ngành sản xuất máy cái (máy cắt gọt kim loại có độ chính xác rất cao, dùng để chế tạo các chi tiết chính xác, chủ yếu của máy công cụ) tạo ra một thị trường rất lớn của riêng Việt Nam, giúp tối ưu được công nghệ cho cả ngành sản xuất và cả thị trường. “Việc cần tiếp theo đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là có chính sách hỗ trợ tiếp cận thuê đất đai. Hiện các khu công nghiệp thường cho thuê theo lô diện tích rất lớn, từ 10.000 m2 trở lên trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ cần diện tích từ 3.000 - 5.000m2 để phù hợp với quy mô sản xuất và kế hoạch phát triển của doanh nghiệp”, ông Ngọc đề xuất. Ông cũng cho biết, với đặc thù của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc có các chính sách hỗ trợ lãi suất, ưu đãi đầu tư cho các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ sẽ là nền tảng để doanh nghiệp có thể có nguồn lực để nhanh chóng vươn lên. Đồng quan điểm, ông Lê Quý Khả, Chủ tịch HĐQT - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cơ điện TOMECO cho rằng, doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực sản xuất hiện không chỉ cạnh tranh với doanh nghiệp FDI mà còn phải thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, yêu cầu thị trường và biến động kinh tế. Vì vậy, việc có các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp, tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, đơn giản hoá các thủ tục đăng ký đầu tư, tiếp cận chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sẽ là những giải pháp tốt và cần nhất trong giai đoạn hiện nay. Theo ông Khả, để kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, cần kết hợp hai yếu tố đến từ sự đồng bộ hóa chính sách từ Nhà nước và đến từ sự nâng cao nội lực doanh nghiệp. Để gỡ các nút thắt này, Chính phủ cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp cận vốn, đất đai và các chính sách hỗ trợ sản xuất. Cùng đó, cần đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Bản thân doanh nghiệp cũng phải không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh doanh, mà còn cần đảm bảo phát triển theo hướng bền vững để từ đó có thể đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế quốc gia. Theo các chuyên gia và doanh nghiệp, việc gỡ nút thắt về vốn thông qua xây dựng chính sách và cơ chế bảo lãnh tín dụng cởi mở, thông thoáng hơn, thủ tục vay vốn đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện hơn, các kênh tiếp cận tài chính đa dạng hơn sẽ là giải pháp đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể hình thành các tập đoàn tư nhân lớn mạnh. Thiếu tài sản thế chấp, thiếu vốn đang là rào cản lớn nhất với doanh nghiệp tư nhân hiện nay ẢNH: NGUYỄN BẰNG ĐÒN BẨY CHO MỘT VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG Đau đầu vì nút thắt tín dụng “Các ngân hàng cần cải tiến quy trình thẩm định tín dụng theo hướng đơn giản, minh bạch và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Việc áp dụng mô hình thẩm định tín dụng theo rủi ro, kết hợp đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp bằng các tiêu chí linh hoạt, giảm bớt yêu cầu giấy tờ không cần thiết cũng sẽ giúp doanh nghiệp rộng cửa tiếp cận vốn vay hơn”. Ông NGUYỄN THANH KHIẾT Bài 5: Phát triển thị trường vốn, cải thiện tiếp cận đất đai Chia sẻ với PV Tiền Phong, PGS.TS Phạm Thị Kim Ngọc, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, số liệu từ báo cáo tại cuộc họp của Ban Chiến lược và Chính sách Trung ương đầu tháng 3 vừa qua cho thấy: Một nghịch lí là khoảng 85% lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) nhưng lại chỉ đóng góp trên 50% GDP và khoảng 30% nguồn thu ngân sách Nhà nước.

5 n Thứ Hai n Ngày 31/3/2025 xuất cho doanh nghiệp vì đây vẫn là vấn đề cực kì nan giải. “Cần phải đổi mới tư duy và siết chặt kỷ cương về quy hoạch và quản lí quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là đất kinh doanh, thương mại. Cần quy định và thực hiện nghiêm quy định về công khai nguồn cung diện tích đất và mặt bằng cho thuê để kinh doanh, thương mại; giảm bớt thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình giao đất, thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất/mặt bằng để giảm tình trạng “xin - cho”; xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp dành riêng cho SMEs với mức giá thuê đất hợp lí”, PGS TS Kim Ngọc đề xuất. NGHIÊM HUÊ KINH TẾ THÁCH THỨC BAO VÂY Trong Báo cáo kinh tế thường niên ĐBSCL 2024, do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố, năm vừa qua, GRDP của vùng tăng 7,3%, cao hơn bình quân cả nước, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 28 tỷ USD. Tuy nhiên, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký VCCI chỉ ra, đầu tư vào ĐBSCL vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, khi tỷ lệ vốn đầu tư công vào vùng chỉ chiếm chưa đến 10% cả nước, trong khi đầu tư tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn rất hạn chế (vốn FDI vào cả miền Tây không bằng 1 tỉnh miền Đông Nam bộ). Vùng ĐBSCL đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, kéo theo tình trạng xâm nhập mặn, sụt lún và sạt lở đất, thiếu nước ngọt. Hệ thống hạ tầng giao thông và logistics chưa đồng bộ, làm gia tăng chi phí vận chuyển và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, hàng hóa. Ở góc độ DN, ông Trần Chí Nguyện, Phó TGĐ Cty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau cho rằng, những thách thức lớn vùng ĐBSCL đang đối mặt gồm hạ tầng giao thông, logistics, vốn, nhân lực chất lượng cao đều chưa đáp ứng nhu cầu, trong khi rủi ro ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu. “Những yếu tố này không chỉ tác động đến nền kinh tế của vùng, còn đặt ra thách thức lớn đối với các DN khi mở rộng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế”, ông Nguyện nói. Nhìn nhận 3 góc độ chính tạo điểm nghẽn của ĐBSCL gồm việc làm, hạ tầng và nguồn lực, ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc VCCI chi nhánh ĐBSCL, phân tích, thiếu việc làm dẫn đến người lao động không có thu nhập, nên phải đi nơi khác tìm việc, khi DN đầu tư vào khu vực lại không có lao động, tạo vòng tròn kìm hãm nhau. Với hạ tầng, sự yếu kém về hạ tầng khu công nghiệp, logistics làm cho chi phí vận hành cao, thiếu cạnh tranh, từ đó không hấp dẫn nhà đầu tư. Còn góc độ nguồn lực, việc có ít DN, nhà đầu tư tìm tới dẫn đến thu ngân sách thấp. “Đây là 3 vòng xoáy luẩn quẩn làm cho vùng ĐBSCL chậm phát triển”, ông Lam nói. Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, ông Trần Văn Huyến, cho rằng, nếu gỡ được các điểm nghẽn về vốn, hạ tầng, logistics, nguồn nhân lực, ĐBSCL có thể trở thành cực tăng trưởng mới. Thậm chí trở thành vùng kiểu mẫu về phát triển nông nghiệp sinh thái, công nghiệp chế biến hiện đại và kinh tế tuần hoàn. “Nếu giải được bài toán vốn, vùng sẽ có cú chuyển mình mang tính bước ngoặt”, ông Huyến nhận định. CẦN THAY ĐỔI TƯ DUY QUẢN LÝ Để kích hoạt kinh tế vùng ĐBSCL, các DN, chuyên gia và nhà quản lý cùng nhìn nhận, vùng này cần được đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng giao thông (đường bộ, cảng biển), logistics, giúp giảm chi phí vận chuyển, nâng cao năng lực xuất khẩu nông sản. Triển khai các chính sách tín dụng xanh và ưu đãi cho DN nông nghiệp công nghệ cao, hỗ trợ DN và nông dân cùng đầu tư vào sản xuất hiện đại; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao. Ông Nguyễn Phương Lam cho rằng, ngoài giải quyết điểm nghẽn hạ tầng, logistics, khu công nghiệp, cần đi kèm với chính sách đặc thù cho nhà đầu tư sơ cấp, đầu tư vào hạ tầng chiến lược. Đặc biệt, cơ quan quản lý, chính quyền các địa phương cần thay đổi tư duy, quan điểm quản lý theo hướng hiểu DN, nhà đầu tư, từ đó thực thi thủ tục hành chính minh bạch, công bằng, đơn giản, hiệu quả. Ông Jonathan London, cố vấn kinh tế Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), lo ngại, ĐBSCL có tỷ lệ đói nghèo gia tăng trong những năm gần đây, nhiều người trẻ vẫn đang rời đi tìm kiếm cơ hội ở nơi khác. Do đó, nếu không có sự thay đổi sâu sắc hơn, những thành quả tăng trưởng sẽ khó duy trì. Vấn đề không chỉ ở số lượng đầu tư, còn chất lượng và tác động của nguồn lực đầu tư. Từ đó, vị chuyên gia này đề xuất nên đầu tư và hạ tầng chống chịu biến đổi khí hậu, đào tạo nghề và đổi mới sáng tạo, các mô hình kinh doanh tạo nhiều việc làm và mang lại giá trị cho cộng đồng địa phương, và cần những tín hiệu rõ ràng hơn cho khu vực tư nhân. Về môi trường kinh doanh vùng ĐBSCL, báo cáo của VCCI chỉ ra, điểm mạnh của vùng tiếp tục được duy trì như về chỉ số gia nhập thị trường, chi phí thời gian, chi phí không chính thức... đều giữ và được cải thiện, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Ngược lại, các chỉ số về đào tạo lao động, tính minh bạch, cạnh tranh bình đẳng vẫn là điểm yếu cố hữu của vùng. Tính đến cuối năm 2024, toàn vùng ĐBSCL có khoảng 71.000 DN đang hoạt động, tăng gần 5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, số DN thành lập mới trong năm hơn 3.200 DN, trong khi số DN rút khỏi thị trường của vùng cũng cao, bình quân 100 DN thành lập mới lại có 88 DN giải thể. Giai đoạn 20142023, vốn đầu tư từ khu vực tư nhân của ĐBSCL tăng 1,7 lần, thấp hơn mức tăng bình quân cả nước (2,1 lần), vùng có tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư tư nhân thấp nhất cả nước. “Cụm từ ‘gần như thấp nhất cả nước’ luôn gắn liền với ĐBSCL khi nhắc đến các chỉ tiêu về DN”, nhóm nghiên cứu của VCCI chỉ ra. Báo cáo dẫn chia sẻ từ Cty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau, dù DN có cổ phần nhà nước vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính. Cụ thể, DN này đang thực hiện Dự án khoa học - công nghệ tại Long An, ban đầu dự kiến hoàn thành trong 1 năm, nhưng tới nay đã gần 2 năm trôi qua chỉ để xin quyết định đầu tư. Trong quá trình này, DN nhận thấy nhiều nhiêu khê và lúng túng từ phía các cơ quan Nhà nước, đặc biệt đối với các dự án nghiên cứu phát triển do DN thực hiện. Dù các sở, ngành Long An rất ủng hộ, nhưng do sự chồng lấn trong cách hiểu của cơ quan thực thi pháp luật, nên mất rất nhiều thời gian của DN. CẢNH KỲ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nông nghiệp trọng yếu của cả nước, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, khu vực này đóng góp rất khiêm tốn cho tăng trưởng kinh tế chung cả nước, cho thấy có nhiều điểm nghẽn trong thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp (DN) tư nhân, dẫn tới vòng xoáy đi xuống và sự tụt hậu của ĐBSCL. Vùng ĐBSCL còn nhiều thách thức, đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng NGÂN HÀNG PHẢI ĐỒNG HÀNH VỚI DOANH NGHIỆP Hỗ trợ doanh nghiệp lớn mạnh thông qua tạo cơ chế, bơm vốn để khi doanh nghiệp “sống khoẻ” sẽ quay lại đóng thuế, nộp ngân sách là một trong những chiến lược đồng hành với doanh nghiệp được TPHCM triển khai từ tháng 11/2024 đến nay. Ông Nguyễn Quang Thanh - Phó Tổng Giám đốc Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TPHCM (HFIC) cho biết, thành phố hướng tới cho vay các dự án của các các doanh nghiệp 100% vốn trong nước thực hiện trên địa bàn TPHCM và các đơn vị công lập. HFIC sẽ cho vay với lãi suất 0% đối với số tiền 200 tỷ đồng, thời hạn vay 7 năm để doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị mới, nhà xưởng... thuộc các lĩnh vực công nghệ cao, thương mại, sản xuất nông nghiệp, y tế, giáo dục, môi trường, cơ khí hóa tự động, chế biến thực phẩm, dệt may, da giày. Cùng đó, thành phố ưu tiên hỗ trợ lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; thương mại và phục vụ sản xuất nông nghiệp, giáo dục nghề nghiệp; hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và môi trường. Trong đó, các lĩnh vực được ưu tiên cho vay hỗ trợ lãi suất, bao gồm cơ khí tự động hóa, cao su, nhựa, hóa dược, chế biến thực phẩm, điện tử và công nghệ thông tin, dệt may và da giày với mức hỗ trợ 50% hoặc 100%, mức vốn vay tối đa lên đến 200 tỷ đồng/dự án. Cũng theo ông Thanh, để tháo gỡ rào cản đối với doanh nghiệp không còn tài sản thế chấp, HFIC sẵn sàng chấp nhận thế chấp tài sản hình thành trong tương lai của doanh nghiệp khi ký hợp đồng vay vốn.. Tuy nhiên, tài sản này được định giá khoảng 50% giá trị mà doanh nghiệp đã mua, từ đó quyết định số tiền cho vay. Theo ông Nguyễn Thanh Khiết, Chủ tịch Hãng kiểm toán ASCO, một trong những thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp phải là khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng. Dù ngân hàng có các gói tín dụng cho nhiều lĩnh vực, từng phân khúc với các mức lãi suất khác nhau nhưng hầu như doanh nghiệp không tiếp cận được do bản thân doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu tài sản đảm bảo, hồ sơ tài chính chưa minh bạch… Để giải quyết nút thắt này, cần triển khai các giải pháp đồng bộ từ phía ngân hàng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Ở chiều ngược lại, nếu muốn thúc đẩy vốn tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa, các ngân hàng cũng cần nghiên cứu thiết kế các sản phẩm tài chính chuyên biệt như khoản vay tín chấp dựa trên dòng tiền kinh doanh, khoản vay theo hợp đồng đầu ra hoặc khoản vay dựa trên tài sản hình thành từ vốn vay. Cùng với đó, ngân hàng cần mở rộng việc đánh giá tín dụng dựa trên dữ liệu giao dịch thực tế của doanh nghiệp thay vì chỉ tập trung vào tài sản đảm bảo hoặc khoản vay dựa trên tài sản hình thành từ vốn vay. PHẠM TUYÊN Những điểm nghẽn làm miền Tây tụt hậu Khảo sát của VCCI với các DN tại vùng ĐBSCL vào quý 4/2024 cho thấy, gần 57% DN cho biết có dự định đầu tư tại vùng này trong 5 năm tới, 32% DN không có kế hoạch mở rộng đầu tư; hơn 11% DN dự kiến mở rộng nhưng sang vùng khác, chủ yếu lên vùng Đông Nam bộ. “Kết quả này cho thấy, ĐBSCL không chỉ gặp khó khăn trong việc thu hút DN mới, còn gặp thách thức trong huy động vốn từ các DN tư nhân hiện có và cạnh tranh với các vùng khác năng động hơn để giữ chân DN”, báo cáo của VCCI đánh giá. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất tập trung cải thiện hạ tầng giao thông, đi liền với cải cách thủ tục hành chính, môi trường kinh doanh từ các địa phương. Doanh nghiệp tư nhân, kể cả doanh nghiệp lớn vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn. Trong chừng mực nào đó, việc một tỉ trọng nguồn vốn lớn, không muốn nói là quá lớn, trong xã hội đang dồn vào thị trường bất động sản chưa được quản lí tốt khiến cho nguồn vốn dành cho các ngành sản xuất, kinh doanh khác bị thu hẹp. Lãi suất vay cao, văn hoá thế chấp bằng bất động sản, khiến cho các doanh nghiệp phi bất động sản, khó tiếp cận vốn.

DỊCH VỤ GIÁ CAO Cách đây không lâu, cuộc tranh luận giữa PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kĩ thuật TPHCM, và TS Phạm Như Nghệ, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH, Bộ GD&ĐT, về tên gọi chương trình CLC thu hút sự quan tâm của dư luận. Bộ GD&ĐT dự kiến yêu cầu điểm chuẩn chương trình CLC ít nhất phải bằng chương trình đại trà. Khi đó, ông Nghệ phát biểu làm sao gọi là chương trình CLC được khi thi chương trình thường thì không trúng tuyển nhưng thi vào chương trình CLC lại trúng tuyển? Ông Dũng tranh luận lại khá gay gắt với ông Nghệ. Ông Dũng cho rằng, nếu ông quảng cáo chương trình của trường là “chương trình dịch vụ CLC” cũng sẽ có nhiều thí sinh đăng kí vào học. Vì với điều kiện đảm bảo CLC như vậy, máy lạnh, giảng viên giỏi, chương trình đào tạo nước ngoài, dạy bằng tiếng Anh, sĩ số lớp ít... thì cho dù điểm đầu vào thấp hơn, sau 4 năm, số sinh viên ra trường của chương trình này sẽ có chất lượng tốt hơn sinh viên chương trình bình thường. Sinh viên học chương trình đại trà ra trường có tỉ lệ 86% có việc làm nhưng 100% sinh viên chương trình CLC ra trường có việc làm. Vậy đây không phải là CLC thì là gì? Bàn đến nội dung này, lãnh đạo một số trường ĐH cho rằng, hiện nay các chương trình đào tạo đều có chuẩn đầu ra. Tại sao chương trình CLC có điểm đầu vào thấp hơn một chút, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng đầu ra? Vì các lớp CLC phải dành nguồn lực nhiều để có quá trình nhiều hơn so với lớp đại trà. Ghi nhận thực tế những năm qua, một số cơ sở giáo dục ĐH lấy điểm chuẩn chương trình CLC không cao bằng chương trình chuẩn. Thậm chí có trường còn cho phép sinh viên đã trúng tuyển vào bất kì chương trình nào của trường, sau đó tham gia thêm kì thi do trường tổ chức để xét vào chương trình CLC. Với hình thức này, có thể ban đầu sinh viên không trúng tuyển vào ngành mong muốn vì điểm đạt được thấp hơn điểm chuẩn, nhưng qua kì thi của trường, lại trúng tuyển. Theo nhận định của Kiểm toán Nhà nước trong cuộc làm việc với Bộ GD&ĐT cách đây vài năm, chương trình này cũng chỉ khác chương trình không cao ở việc học phí thu cao hơn (có trường gấp 3 lần), tăng cường tiếng Anh và chuẩn đầu ra tiếng Anh cao hơn, lớp học ít sinh viên và trang thiết bị hiện đại cộng máy lạnh; nhưng đầu vào lại thấp hơn... Như vậy, không thể gọi là CLC mà chỉ là dịch vụ cao hơn, có máy lạnh, giảng viên được tuyển chọn hơn. Chưa kể, chương trình CLC đã và đang sinh ra những mô hình trường tư trong trường công không giống ai - khi một trường công lập có hai chương trình với hai mức học phí khác nhau, tạo ra sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc từ trên ghế giảng đường. Một sinh viên ra trường đi làm, sẽ được xã hội xác lập thêm tên gọi loại hình họ được đào tạo là CLC hay thấp, thay vì theo danh tính và trí tuệ. CẦN CÓ TRẦN HỌC PHÍ TS Doãn Minh Đăng, một nhà khoa học đang làm việc tại Đức, cho biết, những trường ĐH lớn ông từng học, làm việc ở Hà Lan, Bỉ, Đức không có các chương trình chuyên biệt như Việt Nam. Theo hệ thống tín chỉ, sinh viên của trường được chọn học các môn tự do như nhau, nên học phí được đối xử bình đẳng. Ông Đăng cho hay, giáo dục ĐH ở châu Âu có tính đồng nhất khá cao, tạo thuận lợi cho sinh viên có thể xin sang học một vài học kì trao đổi ở trường khác, nước khác. Các trường không xây dựng hệ đào tạo riêng. TS Nguyễn Thị Thu Hiền, chuyên gia cao cấp Sinh Y, Bệnh viện ĐH Aalborg (Aalborg, Đan Mạch), khẳng định, tại Đan Mạch, sinh viên trong nước được miễn học phí học ĐH. TS Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường ĐH Thành Đô, cho rằng, cần có phương án áp trần học phí với các chương trình đào tạo trong trường ĐH công lập tại Việt Nam. Ông Hiệp nhận định, Nhà nước phải có quyền kiểm soát trường công. Một trong những hình thức kiểm soát này là chặn trần học phí. Với thực trạng những ngành được kiểm định, CLC, tiếng Anh, tiên tiến…, cơ sở giáo dục được phép tự xác định học phí dựa trên định mức kĩ thuật. Theo ông Hiệp, Việt Nam là một trong những quốc gia hiếm hoi trên thế giới sinh viên nội địa (sinh viên trong nước) không được chặn trần học phí. Những nước theo kinh tế thị trường điển hình như Mỹ, sinh viên trong nội bang khi vào học trường ĐH sở tại đều có chặn trần học phí. Đây là nguyên lí bất di bất dịch của trường ĐH công lập. “Chi phí đào tạo cần được chi trả bởi phần nào đó bởi Nhà nước. Trường ĐH tự chủ tại Việt Nam bị cắt chi thường xuyên, sinh viên của những trường này gánh học phí cao phải nhận được những đặc quyền như học bổng riêng, quỹ tín dụng riêng. Điều này có nghĩa là trước tự chủ, tài chính đầu tư cho trường, sau tự chủ, nguồn kinh phí này đầu tư trực tiếp cho người học”, ông Hiệp nói. Theo ông, hiện nay, Việt Nam thực hiện nửa chừng, học phí cao nhưng hỗ trợ người học chưa đáng kể. Ông Hiệp khẳng định lại một lần nữa quan điểm là các chương trình CLC phải có trần học phí, không tháo khoán như hiện nay vì nếu không trường công thành trường tư. Mức chặn trần gấp 2, gấp 3 hay thậm chí gấp 5, dựa vào tính toán định mức kĩ thuật. Tình trạng để các trường công tự xác định học phí được ông Hiệp cảnh báo dẫn đến 2 hậu quả: trường công thành trường tư và trường tư không phát triển được vì trường công vẫn có thương hiệu. Ông Hiệp lấy ví dụ cụ thể tại Đài Loan (Trung Quốc), nơi ông làm nghiên cứu sinh, trường ĐH cũng có nhiều loại hình chương trình đào tạo. Nhưng những dao động lớn về học phí dành cho sinh viên quốc tế, còn sinh viên nội địa, học phí luôn được khống chế ở mức độ người dân chi trả được. Công thức của Đài Loan (Trung Quốc) là căn cứ vào 20% người dân nghèo nhất để tính học phí, các gia đình có thu nhập trung bình thấp vẫn có thể cố cho con học ĐH. Các nước trên thế giới có hệ này hệ khác nhưng liên quan đến nội dung đào tạo, ví dụ một số nước không nói tiếng Anh có chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, vừa nâng cao trình độ cho sinh viên nội địa, vừa thu hút sinh viên quốc tế. Ông Hiệp cho rằng, các chương trình CLC ở Việt Nam, mức học phí chỉ những gia đình từ khá trở lên mới đủ năng lực chi trả. Do đó dẫn đến vòng luẩn quẩn con em gia đình không có kinh tế khó có cơ hội tiếp cận trường tốt, chương trình tốt kể cả khi đủ năng lực để học. Học phí vô tình trở thành rào cản. BẪY CHẤT LƯỢNG TRUNG BÌNH Tại hội nghị Giáo dục ĐH năm 2024, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh, muốn tăng chất lượng đào tạo thì phải tăng tổng chi kinh phí cho giáo dục ĐH, bởi mức chi hiện nay còn quá thấp so với yêu cầu. Theo ông Sơn, phải tăng chi phí đầu tư giáo dục ĐH, cần tập trung vào đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên... Hiện nay, chi phí chi trả lương, phụ cấp cho đội ngũ giảng viên chiếm khoảng 50% tổng chi đào tạo. Nếu mức thu nhập của giảng viên không có sức cạnh tranh so với khu vực doanh nghiệp, với các nước trên thế giới thì khó có thể giữ chân được giảng viên giỏi. Nhiều lần, tại các hội thảo, hội nghị về giáo dục ĐH, ông Sơn luôn khẳng định tự chủ ĐH đã phát huy hiệu quả nhưng đã đến giới hạn. Giáo dục ĐH chưa thể có bước chuyển biến mạnh nếu không kịp thời có cơ chế, chính sách tài chính đột phá. Đó chính là cái bẫy chất lượng trung bình của giáo dục ĐH, một trong những điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở sự phát triển của giáo dục ĐH. GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ GD&ĐT), cho rằng, ba vấn đề lớn về tài chính mà hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam đang đối mặt là thiếu kinh phí, bất bình đẳng và thiếu tự chủ tài chính. Ông Vinh nêu ba thách thức lớn về tài chính trong giáo dục ĐH hiện nay là các trường thiếu kinh phí trầm trọng, mức học phí cho các trường công rất thấp, các nguồn thu khác từ dịch vụ, dịch vụ khoa học, công nghệ, từ viện trợ, tài trợ, hiến tặng cũng quá thấp. Theo nhóm chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam cần tăng đầu tư với tỉ trọng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục ĐH từ 0,23% lên ít nhất 0,8-1% GDP trước năm 2030. NGHIÊM HUÊ 6 nThứ Hai n Ngày 31/3/2025 KHOA GIÁO Việc nhập nhèm tên gọi chất lượng cao (CLC) khiến phụ huynh, thí sinh nhầm tưởng chất lượng đào tạo những chương trình này cao hơn chương trình chuẩn. Những thủ khoa nghèo vượt khó nhận học bổng Nâng bước thủ khoa của báo Tiền Phong ẢNH: NHƯ Ý ẨN SỐ CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TRƯỜNG ĐH: Bài cuối: Trả lại tên cho chương trình đào tạo TS Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường ĐH Thành Đô, cho rằng, cần có phương án áp trần học phí với các chương trình đào tạo trong trường ĐH công lập tại Việt Nam. Ông Hiệp khẳng định, Nhà nước phải có quyền kiểm soát trường công.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==