Tiền Phong số 91

Quá trình chuyển đổi này hiện diễn ra tương đối chậm chạp. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI có trình độ công nghệ và các doanh nghiệp trong nước lỏng lẻo, chưa tạo ra được sự lan tỏa và tận dụng tối đa hiệu quả của FDI đầu tư tại Việt Nam. Một trong những nguyên nhân chính là do năng lực các doanh nghiệp trong nước quá hạn chế, chưa đủ sức để tiếp cận và tiếp nhận sự lan tỏa với năng lực hiện có, trong khi các chính sách hỗ trợ thúc đẩy từ phía Nhà nước chưa đủ mạnh, thiếu tính đồng bộ theo một kế hoạch tổng thể phát triển chung các ngành công nghiệp. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý đối với bẫy thu nhập trung bình mà dường như một số nước ASEAN đã vướng do không chuyển sang được giai đoạn sáng tạo, làm chủ hoàn toàn công nghệ và sản xuất hàng hóa chất lượng cao như Hàn Quốc hay Đài Loan đã đạt được. Theo Bộ Công Thương, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn vừa qua chủ yếu do việc thu hút đầu tư nước ngoài thông qua các cơ hội thị trường tạo ra khi Việt Nam gia nhập WTO và tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA), chứ không phải do nội lực của các doanh nghiệp trong nước (các doanh nghiệp FDI chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt, đối với các ngành xuất khẩu chủ lực như điện - điện tử, dệt may, da giày, số lượng doanh nghiệp FDI chỉ khoảng 20% trên tổng số doanh nghiệp nhưng lại chiếm tới hơn 80% kim ngạch xuất khẩu. Các doanh nghiệp này chủ yếu tập trung ở khu vực hạ nguồn để tận dụng các ưu đãi về thuế và các chi phí đầu vào như nhân công giá rẻ và các yêu cầu về môi trường, lao động chưa quá cao của Việt Nam). Vấn đề này đã gây nên sự nhầm lẫn trong nhận thức của nhiều cơ quan có thẩm quyền khi cho rằng dường như Việt Nam không cần phải xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách phát triển công nghiệp mà quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn sẽ thành công. Nhận thức này cần sớm được thay đổi triệt để từ Trung ương tới địa phương trong thời gian tới để đổi mới tư duy nhằm xây dựng các chính sách mạnh mẽ thúc đẩy phát triển công nghiệp quốc gia theo chủ trương của Đảng. Báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy, hiện nay, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp nước ta vẫn đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ, trong đó có đến 76% thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ nhập từ nước ngoài thuộc thế hệ những năm 1960-1970, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% thiết bị được tân trang lại. Trong cơ cấu tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo, công nghệ thấp và trung bình chiếm đến hơn 60%. Tỷ trọng công nghệ cao trong các doanh nghiệp nhà nước ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở mức thấp và ngày càng giảm, trong khi tại các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng. Mặc dù công nghệ, thiết bị phục vụ sản xuất lạc hậu nhưng các doanh nghiệp công nghiệp, gồm cả những doanh nghiệp lớn cũng chưa thực sự quan tâm đầu tư 4 n Thứ Ba n Ngày 1/4/2025 KINH TẾ KHÓ LỚN VÌ THIẾU TƯ DUY Trả lời câu hỏi về việc các doanh nghiệp hiện vẫn gia công nhiều, làm sao đi vào sâu hơn chuỗi cung ứng, tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn cho từng sản phẩm, chia sẻ với PV Tiền Phong, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho rằng, điều này xuất phát từ việc các doanh nghiệp điện tử của Việt Nam nói riêng và ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung hiện đang là các doanh nghiệp nhỏ và vừa là chủ yếu. Các doanh nghiệp thuộc nhóm này luôn đối mặt 3 vấn đề cơ bản: Thiếu vốn cho đầu tư, sản xuất; Nguồn nhân lực quản trị sản xuất; đặc biệt là vận hành dây chuyền sản xuất là điều các doanh nghiệp Việt đang yếu. Theo bà Hương, hiện có nhiều chương trình của Chính phủ và các tổ chức quốc tế trong hỗ trợ doanh nghiệp Việt. Tuy nhiên, các chương trình đó cần đi vào chiều sâu hơn. Các chương trình đào tạo hiện vẫn chung chung, chưa tập trung cho con người cụ thể, sản xuất chuyên môn cụ thể. Bản thân các doanh nghiệp tiếp cận các thông tin nhiều nhưng hỗ trợ thực tế cho doanh nghiệp còn khá hạn chế. “Hiện trong ngành điện tử, chủ yếu chúng ta bị cạnh tranh của các doanh nghiệp Trung Quốc. Trong khi do thiếu nguồn vốn nên các doanh nghiệp Việt rất khó để mở rộng phát triển, đầu tư nâng cao công nghệ. Đây là việc cần khơi thông. Các chính sách của Nhà nước về thuế, hải quan cũng cần cụ thể hơn. Không nên có những thay đổi bất ngờ về chính sách làm cho doanh nghiệp trở tay không kịp”, bà Hương nói. Chỉ ra loạt vấn đề “cười ra nước mắt” tại một cuộc họp của Bộ Công Thương về thúc đẩy xuất khẩu, ông Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) cho biết, dù doanh số về máy móc, thiết bị hàng năm rất lớn, lên tới hàng chục tỷ USD nhưng số tiền này chủ yếu là đóng góp từ khối doanh nghiệp FDI, phần của doanh nghiệp nội hiện rất khiêm tốn. Theo ông Sáng, ngoài các vấn đề về vốn, nhân lực, công nghệ, doanh nghiệp Việt hiện thiếu nhiều kỹ năng liên quan đến tiếp thị khách hàng, triển lãm, tổ chức xúc tiến thương mại cũng như làm hình ảnh trên các nền tảng mạng xã hội, trên Facebook, Tiktok…, thậm chí các website của công ty cũng rất nghèo nàn thông tin. Như vậy làm sao quảng bá được thương hiệu, làm sao tạo được sự tin tưởng đặt hàng từ các đối tác. Nghịch lý nữa của ngành cơ khí, cũng như trong hầu hết các ngành nghề chính là bên cạnh việc hầu như không biết đến tận dụng thương mại điện tử để phát triển, doanh nghiệp nào cũng bo bo phần của mình, rất khó kết nối với nhau. Thậm chí hai doanh nghiệp cùng ngành cùng làm một lĩnh vực nhưng không nói chuyện được với nhau. Điều này dẫn đến việc rất khó kết nối với các doanh nghiệp hay hiệp hội nước ngoài cũng như không thể làm việc được với các nhà nhập khẩu lớn. Một tư duy cũ bộc lộ đó là khi các doanh nghiệp đã làm được một sản phẩm tốt thì lại ngại thay đổi, cải tiến sản phẩm. Điển hình như trường hợp của một công ty TNHH Cơ khí công nông nghiệp thực phẩm ở TPHCM sản xuất được hệ thống máy xay xát lúa gạo liên hoàn thống trị được thị trường và xuất khẩu được tới 4 triệu USD/năm. Nhưng doanh nghiệp này quyết không mở rộng thị trường dù tiềm năm xuất khẩu sang các nước châu Phi lên tới hàng chục triệu USD. Sau nhiều năm, hàng loạt đại bàng, DN FDI toàn cầu đã có mặt và kinh doanh ở Việt Nam. Tuy nhiên, đằng sau mặt trái của tấm huy chương về thu hút FDI chính là sự phụ thuộc về năng lực công nghệ, cũng như định hướng lại cơ cấu ngành nghề để doanh nghiệp Việt làm chủ công nghệ, đi sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ DN đầu tư nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ ĐÒN BẨY CHO MỘT VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG Mãi ở phân khúc thấp, vì sao? “Nếu không có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước, các doanh nghiệp sẽ gặp khó trong đầu tư vì mỗi một nhà máy đều cần tới số vốn hàng trăm tỷ đồng. Khi ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, việc tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI sẽ chậm theo, thậm chí đánh mất cơ hội phát triển cùng với sự phát triển của các tập đoàn toàn cầu”. Ông ĐỖ PHƯỚC TỐNG, Chủ tịch Hội doanh nghiệp Cơ khí Điện TP Hồ Chí Minh (HAMEE) Bài 6: Mối lo từ công nghệ lạc hậu, phụ thuộc Báo cáo mới nhất về sức khỏe của doanh nghiệp cũng như thực trạng của ngành công nghiệp hỗ trợ, Bộ Công Thương cho biết, Việt Nam đang ở bước chuyển tiếp từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 trong quá trình phát triển công nghiệp, trong đó, mức độ hấp thụ công nghệ và trình độ quản lý sản xuất vẫn đang ở mức rất hạn chế. Thiếu khả năng làm chủ công nghệ khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khi mở rộng cạnh tranh sản xuất ở các lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ cao ẢNH: NGUYỄN BẰNG

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==