Báo Tiền Phong số 287/2025

Thưa ông, nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng sạt lở đất, lũ quét và ngập lụt ở miền núi phía Bắc trong các đợt bão lũ vừa qua? Vùng núi phía Bắc có địa hình bị chia cắt mạnh, nền đất đá bị phong hóa sâu, hệ thống sông suối dày đặc và có độ dốc lớn. Đặc biệt, vào mùa mưa, đất đá ngậm nước, mất liên kết, rất dễ trượt lở, nhất là khi có hoạt động của con người tác động vào sườn dốc. Trong tháng 10 vừa qua, mưa lớn kéo dài nhiều ngày khiến nhiều nơi vốn không ổn định nay bị phá vỡ hoàn toàn cân bằng, gây ra các vụ sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá, lũ lụt nghiêm trọng. Điều đáng nói là tai biến này có thể lường trước được nếu có đánh giá đầy đủ về địa chất, thổ nhưỡng và lịch sử trượt lở, lượng mưa và tần suất mưa của khu vực. Đây không phải là lần đầu Tây Bắc xảy ra sạt lở đất và chắc chắn chưa phải là lần cuối nếu không có thay đổi căn cơ. Bên cạnh yếu tố địa chất, con người cũng gây các tác động đối với tình trạng sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá. Con người có thể tác động làm thay đổi cấu trúc địa hình tự nhiên, từ đó làm gia tăng nguy cơ sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá, lũ quét... Một số hoạt động như: chặt phá rừng, mở đường, khai thác khoáng sản hay xây dựng nhà cửa trên địa hình dốc nếu không được đánh giá kỹ lưỡng về điều kiện địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng có thể vô tình tạo ra những điểm yếu, tiềm ẩn rủi ro sạt lở đất, lũ bùn đá, lũ quét, ngập lụt... Bên cạnh đó, việc bố trí dân cư ở những khu vực có địa hình phức tạp, như ven suối, chân taluy hay khu vực từng ghi nhận dấu hiệu nứt đất, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ quét ... đôi khi chưa được tiếp cận đầy đủ thông tin cảnh báo về địa chất. Có nơi, các công trình công cộng như trường học hay trạm y tế vẫn đang hiện diện trong vùng nguy cơ mà chưa có điều kiện di dời hoặc gia cố. Thực trạng này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa công tác quy hoạch, điều tra địa chất và quản lý phát triển hạ tầng, nhằm bảo đảm an toàn lâu dài cho người dân. Người dân ở khu vực sườn núi, ven suối nên xây dựng, cải tạo nhà ở theo nguyên tắc nào để giảm nguy cơ sập đổ khi xảy ra sạt lở? Chúng ta cần phải thay đổi từ “phản ứng sau thiên tai” sang “quản lý rủi ro thiên tai chủ động”. Điều đó có nghĩa là trước khi quy hoạch dân cư, xây dựng công trình hay phát triển kinh tế ở miền núi, phải có bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá, lũ lụt chi tiết. Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản hiện đang triển khai xây dựng bản đồ nguy cơ sạt lở đất đá cho các tỉnh miền núi phía Bắc. Bản đồ này tích hợp dữ liệu địa chất, địa mạo, độ dốc, lượng mưa, sử dụng đất và mật độ dân cư, cho phép chính quyền địa phương nhận biết khu vực nào có thể xây dựng, khu nào cần cảnh báo hoặc cấm tuyệt đối. Về quy hoạch lâu dài, theo ông, cần di dời và bố trí tái định cư ra sao để người dân sống an toàn hơn trước thiên tai? Để đạt được mục tiêu này, ngành địa chất không thể đứng ngoài quy hoạch. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dân cư miền núi tăng nhanh, ngành địa chất cần chủ động tham gia vào chiến lược phát triển, từ quy hoạch sử dụng đất, định hướng giao thông, lựa chọn vùng phát triển kinh tế đến xây dựng hạ tầng an toàn. Điều quan trọng là phải tích hợp dữ liệu địa chất - môi trường gồm các loại bản đồ nguy cơ sạt lở và bản đồ vị trí các khu vực lựa chọn khu vực an toàn vào quy trình ra quyết định di dời và bố trí tái định cư của các cấp chính quyền. Nếu không, rủi ro sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá sẽ tiếp tục tái diễn như một vòng lặp không hồi kết. Với hệ thống đường sá miền núi, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật, vật liệu và thiết kế nào để hạn chế sạt lở, chia cắt giao thông? Giải pháp công trình rất quan trọng, nhưng không thể triển khai đơn lẻ. Ví dụ, việc xây dựng tường chắn đá, rọ thép, rãnh thoát nước là cần thiết tại các điểm xung yếu. Tuy nhiên, nếu không gắn với phục hồi rừng đầu nguồn, trồng cây bám đất, quản lý nước mặt hợp lý thì chỉ là giải pháp tạm thời. Giải pháp sinh thái - kỹ thuật - cộng đồng phải đi cùng nhau. Người dân cần được tập huấn cách nhận diện dấu hiệu sạt lở đất đá (nứt nền nhà, đất mềm, cây nghiêng), trong khi đó chính quyền cần giám sát việc thi công trên địa hình dốc, còn các nhà khoa học phải đồng hành trong tư vấn kỹ thuật - từ khảo sát đến xây dựng mô hình cảnh báo. Ông có khuyến nghị gì cho chính quyền địa phương và người dân Tây Bắc trong việc phối hợp xây dựng công trình bền vững, an toàn? Sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá, lũ lụt không còn là điều bất ngờ. Nó là hệ quả của một quá trình tích tụ và có thể nhận biết, phòng ngừa được. Vì vậy, các địa phương cần rà soát lại toàn bộ khu dân cư, trường học, trụ sở nằm trong vùng nguy cơ sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá, lũ lụt, sụt lún đất để có lộ trình di dời hoặc gia cố; lồng ghép bản đồ nguy cơ sạt lở, lũ bùn đất đá, lũ lụt vào quy hoạch tổng thể phát triển; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về dấu hiệu cảnh báo sớm; đầu tư cho hệ thống quan trắc và cảnh báo sạt lở đất đá, lũ bùn đất đá, lũ lụt theo thời gian thực bằng công nghệ hiện đại. Chúng tôi luôn sẵn sàng phối hợp để cùng các địa phương khu vực miền núi phía Bắc xây dựng mô hình quản lý rủi ro sạt lở đất, lũ bùn đất đá, lũ quét, lũ lụt phù hợp, khoa học và hiệu quả. Cảm ơn ông. SỸ LỰC (thực hiện) Cần khảo sát để lập quy hoạch khu vực có nguy cơ sạt lở…; Các giải pháp kỹ thuật công trình, xử lý các điểm xung yếu cũng phải được làm một cách khoa học, tổng thể, kết hợp các giải pháp sinh thái với sự tham gia của cộng đồng. Đó là những giải pháp chính để phòng, chống sạt lở, lũ ống, lũ quét tại vùng núi phía Bắc được Tiến sĩ Trịnh Hải Sơn, Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản khuyến cáo. Không xử lý khoa học, sạt lở không hồi kết 14 XÃ HỘI n Thứ Ba n Ngày 14/10/2025 Một ngôi nhà 3 tầng kiên cố ở ven suối tại xã Tú Lệ (Lào Cai) bị nghiêng do lũ về ẢNH: THÀNH ĐẠT Tiến sĩ Trịnh Hải Sơn 1. NGUYÊN TẮC CHỌN ĐẤT - Tránh nơi dốc đứng: Không nên dựng nhà ở sườn dốc trên 25300. Đất đá dễ trượt khi mưa lớn. - Không ở sát suối: Lũ dâng có thể cuốn trôi nhà. Nên cách mép suối ít nhất 15-50 m. - Tránh đất yếu, phong hóa: Đất rời, nứt nẻ, có hang ngầm rất dễ sập. - Ưu tiên nơi có cây che phủ: Cây rừng, cây lâu năm giúp giữ đất, chống xói lở. - Chọn sườn thoải (<150) hoặc gò cao: Thoát nước tự nhiên, an toàn hơn. 2. GIẢI PHÁP PHÒNG TRÁNH NGOÀI CÔNG TRÌNH - Bản đồ nguy cơ: Xác định vùng đỏ (nguy hiểm - cấm xây), vàng (xây có biện pháp), xanh (an toàn). - Trồng cây chắn đất: Cây rễ sâu như cỏ Vetiver, tre, keo để giữ đất. - Đào rãnh thoát nước: Dẫn nước mưa chảy nhanh, không ùn ứ thấm vào sườn dốc. - Hệ thống cảnh báo: Loa, biển báo, trạm đo mưa để di dời kịp thời. - Nhà cộng đồng tránh lũ: Có sẵn nhà kiên cố nhiều tầng, tầng 1 trống, tầng trên an toàn. 3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ AN TOÀN a. Nền và móng - San gạt bậc thang, không cắt ngang dốc. - Tường chắn, rọ đá để giữ đất (chú ý thoát nước qua tường chắn và rọ đá). - Móng sâu và chắc, bám vào lớp đá gốc. - Ở nơi dễ ngập nên làm móng cọc hoặc trụ cao. b. Kiểu nhà nên xây - Nhà sàn (sàn cao 1,5- 2,5 m): Ưu điểm: Tránh ngập, lũ chảy dưới sàn; thông thoáng, chống ẩm mốc; giữ tập quán, tận dụng gầm sàn. - Nhà khung nhẹ, mái nhẹ: Giảm thiệt hại khi sạt lở. - Nhà cộng đồng: Bê tông cốt thép nhiều tầng, tầng dưới để thoáng như nhà sàn, tầng trên làm nơi trú ẩn, nhà sinh hoạt cộng đồng. Ảnh minh họa 2 c. Bố trí trong bản làng - Không dựng nhà chắn dòng nước. - Xếp nhà dọc theo sườn núi, song song đường đồng mức (là đường kết nối các điểm có cùng độ cao) - Giữ cây xanh quanh bản để giữ đất, chắn gió. BẢO AN (tổng hợp) Giải pháp xây dựng nhà ở an toàn

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==