Báo Tiền Phong số 255/2025

9 n Thứ Sáu n Ngày 12/9/2025 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ cả đời cha khắc chưa xong thì đến đời con nối tiếp. Quá trình này diễn ra cả vài chục năm để có được một bộ mộc bản hoàn chỉnh. Đơn giản như bây giờ, mỗi chữ người ta chỉ lấy 5 nghìn đồng, tính ra tiền hiện nay có bản phải mất gần cả trăm triệu đồng”, vừa kể, Thượng tọa Thanh Vịnh vừa chậm rãi tiếp trà. Ở Vĩnh Nghiêm, tàng thư gỗ không đứng riêng một mình. Nó nằm giữa một chỉnh thể kiến trúc cảnh quan tam quan, tam bảo, gác chuông, tháp mộ Tổ, sân gạch, ao bán nguyệt, vườn cây. Cấu trúc ấy tạo ra một “không gian đọc” rất Việt, người ta đọc bằng mắt, bằng tay, và bằng bước chân. Bước từ sân gạch vào nhà tàng bản, ta đổi nhịp thở. Xem một tấm mộc bản, ta đổi cách nhìn. Nghe tiếng chuông chiều, ta đổi hẳn giọng nói với nhau nhỏ nhẹ, chậm hơn. TỪ THIỀN MÔN ĐẾN ĐỜI THƯỜNG Nếu Yên Tử là ngọn núi khởi đạo, thì Vĩnh Nghiêm là nhà học của Trúc Lâm. Ở đây, tri thức không phải để tích lũy cho riêng ai, mà để vận dụng vào đời sống. Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, lời cũ nhưng nghĩa không cũ. Trên bức tường gỗ, tôi đọc được vài câu kệ ngắn, gãy gọn như mệnh lệnh nội tâm. Cái hay của Trúc Lâm là không dồn người vào góc hẹp khắc kỷ, cũng không thả người vào vùng mờ buông thả. Đạo của Trúc Lâm đặt giữa đời, khiến người tu học phải nhìn thấy ruộng đồng, chợ búa, đường sá, bến nước. Khi một vị tăng đọc Cư trần lạc đạo giữa sân chùa, người không rời khỏi đời sống mà người đang chỉ đường cho đời sống “giữa trần mà lạc đạo”, “ở đời vui đạo”, “thấy đủ mà an”. Từ thiền đường, giáo lý đi thẳng xuống đình, đền, miếu, chợ. Nhiều văn bản trong bộ mộc bản không chỉ dùng trong chùa mà còn dùng trong lễ hội làng, trong ngày việc họ, trong các nghi lễ chuyển mùa. Khi một cộng đồng nông nghiệp phải đối diện với lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, các bản văn hướng thiện, khuyến thiện giúp hàn gắn tinh thần, khơi dậy lối sống tương trợ. “Rõ nét nhất là qua đại dịch COVID-19, những nơi khác thầy không biết nhưng riêng ở làng Đức La này, tinh thần nhập thế, yêu thương đùm bọc nhau trong hoạn nạn của Trúc Lâm được thể hiện rõ nhất. Mặc dù đã qua hơn 700 năm nhưng tính thiện đã ăn sâu vào đời sống của người dân. Giúp đỡ nhau trong khó khăn, nhường cơm sẻ áo vượt qua hoạn nạn”, Thượng tọa Thanh Vịnh kể. Trong ngôn ngữ hiện đại, ta có thể gọi Vĩnh Nghiêm là một “platform”, nền tảng kết nối người biên soạn, thợ khắc, nhà in, tăng chúng, và cộng đồng. Nền tảng ấy không hoạt động bằng thuật toán, mà bằng kỷ luật và uy tín. Ở đây, thẩm quyền tinh thần đi cùng năng lực tổ chức. Ai được phép khắc, in? Ai được duyệt bản thảo? Ai chịu trách nhiệm lưu trữ? Ai cầm đi truyền bá? Mỗi “vai” rõ ràng là một bài học quý trong quản trị văn hóa. Vì sao điều này quan trọng? Bởi niềm tin xã hội không tự có, nó cần kiến trúc. Một nghi lễ chuẩn tắc, một bài học đạo đức được in đúng, truyền đúng, lập lại đúng… tạo nên sự lặp có ý nghĩa. Con người tin vào những gì ổn định và nhất quán. Vĩnh Nghiêm đóng góp vào niềm tin ấy bằng hình hài chữ khắc. Chiều xuống trên sân gạch đỏ, tiếng chuông trở nên trong hơn. Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ, nếu Yên Tử trao cho người đi một ngọn lửa nội tâm, thì Vĩnh Nghiêm trao cách giữ lửa bằng kỷ luật, bằng tri thức, bằng sự chăm chút của những bàn tay vô danh. Từ đây, mạch Trúc Lâm lại chảy tiếp về Côn Sơn-Kiếp Bạc, gặp gỡ một mạch nguồn khác, mạch nguồn hào khí, trung với nước, nghĩa với dân. Nhưng trước khi gặp gỡ, phải có nền và nền ấy chính là Vĩnh Nghiêm. (Còn nữa) H.D đón gần 709.000 lượt, khẳng định chiến lược “Festival bốn mùa” đang phát huy hiệu quả. Huế cũng đẩy mạnh các chương trình ánh sáng, nghệ thuật đương đại gắn với quần thể di tích, biến di sản thành không gian trải nghiệm tương tác hút khách. XU HƯỚNG “DI SẢN SỐNG” PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhiều lần nhấn mạnh, công nghiệp văn hóa muốn bứt phá phải coi khu vực tư nhân là “động cơ” đổi mới, dám thử nghiệm mô hình mới để toàn cầu hóa văn hóa Việt Nam. Quan điểm này phù hợp với hướng đi một số địa phương đang cho phép doanh nghiệp, cộng đồng đồng sáng tạo sản phẩm, trên nền tảng chính sách văn hóa, du lịch cởi mở. Xu hướng “di sản sống”, tức là các di tích, di sản văn hóa không chỉ được bảo tồn trong trạng thái tĩnh mà được đưa vào đời sống, được vận hành cùng dân cư, gắn với giao dịch thương mại dịch vụ, tham quan trải nghiệm, được nhiều chuyên gia cho là mang lại trải nghiệm chân thực hơn và hút khách hơn so với mô hình “bảo tàng hóa”. Phân tích về hướng đi này, TS Trần Văn Mạnh (chuyên gia kinh tế du lịch) dẫn trường hợp của Huế: tỉnh này có tới 92 làng nghề trong đó 42 làng nghề truyền thống có bề dày lịch sử lâu đời như gốm Phước Tích, tranh giấy Làng Sình, điêu khắc Mỹ Xuyên, nón lá Phủ Cam, mây tre đan Bao La… Thời gian gần đây, những làng nghề này đã trở thành sản phẩm du lịch bổ trợ phong phú cho các khu di sản cố đô. Tương tự tại Hội An, phố cổ vẫn hút khách, nhưng các tua làng nghề vùng ven, các lớp học thủ công đang ngày càng được quan tâm. HẠ ĐAN Từ 15/8/2023, quy định e-visa Việt Nam mới chính thức có hiệu lực, kéo dài thời hạn lưu trú tối đa lên 90 ngày và nâng thời gian miễn thị thực đơn phương cho một số thị trường tiềm năng lên 45 ngày. Quyết định này được xem là một bước đi đột phá, giúp Việt Nam bắt nhịp xu hướng du lịch lưu trú dài hạn và mô hình kết hợp làm việc và nghỉ dưỡng, vốn đang bùng nổ tại nhiều nước châu Á. Đến năm 2025, những chính sách hỗ trợ tiếp tục được đẩy mạnh với chương trình kích cầuViệt Nam Đi để yêu/Travel to Love do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát động. Chương trình nhấn mạnh ba trụ cột chính: giảm giá đồng bộ các dịch vụ như lưu trú, vận chuyển, giải trí; mở rộng các đường bay thẳng tới thị trường quốc tế trọng điểm; thúc đẩy mô hình du lịch xanh nhằm phát triển bền vững và giảm thiểu tác động môi trường. Ngoài ra, chương trình Travel to Love có mức giảm lên tới 50% cho các dịch vụ lưu trú, vận chuyển, ăn uống, giải trí trên toàn quốc. Các chỉ số phục hồi của du lịch Việt Nam cho thấy tác động rõ rệt từ chính sách mở rộng thị thực, kích cầu và đa dạng sản phẩm. Theo Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, năm 2023 ngành du lịch ghi nhận 12,6 triệu khách quốc tế, tăng gần gấp 3,5 lần so với năm 2022. Bước sang 2024, con số này đạt 17,5 triệu lượt khách, doanh thu du lịch tăng 38,9% so với năm trước, một trong những tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Không riêng số lượng khách quốc tế, du lịch nội địa cũng chứng kiến sự khởi sắc mạnh mẽ. Theo báo cáo từ ngành du lịch, khách nội địa Việt Nam năm 2024 đạt khoảng 110 triệu lượt người tham quan, tiêu dùng trong nước, vượt nhẹ so với 2023. Doanh thu từ du lịch & dịch vụ lưu trú, ăn ở, lữ hành… đều tăng, trong đó thu từ khách quốc tế và nội địa đóng góp lớn vào tổng doanh thu ngành. Cục Du lịch quốc gia Việt Nam nhận định, việc mở cửa thị thực, miễn nhập cảnh/miễn thị thực cho nhiều quốc gia và kéo dài thời gian lưu trú là các biện pháp thiết thực đã hỗ trợ đáng kể cho việc hồi phục. PGS.TS Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đánh giá, các chính sách này đang không chỉ giúp “lượng khách” tăng, mà còn ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng: khách quốc tế đến từ nhiều thị trường hơn, chi tiêu cao hơn, thời gian lưu trú dài hơn, và thị trường nội địa trở thành động lực bền vững trong bối cảnh biến động quốc tế. GIỮ HỒN VIỆT THỜI CÔNG NGHỆ SỐ TS Đỗ Anh Đức (Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, muốn bứt phá, ngành du lịch phải “kiến tạo giá trị” thay vì chỉ quảng bá cái sẵn có. Thứ chúng ta còn thiếu, theo ông, là một thông điệp thương hiệu xuyên suốt, một chiến lược dài hạn để Việt Nam bước ra toàn cầu với một hình ảnh đồng nhất, hấp dẫn và đáng tin cậy. Ông cho rằng, mọi chiến dịch quảng bá nếu không có sự tham gia của cộng đồng đều sẽ thất bại: “Trên thế giới nhiều quốc gia làm truyền thông thương hiệu từng thất bại vì chủ quan duy ý chí, đưa ra những khẩu hiệu nhắm đến việc “người nước ngoài sẽ thích đấy” nhưng người trong nước, địa phương lại không ủng hộ. Quan trọng là người dân phải thấy mình trong câu chuyện và chính họ phải kể câu chuyện đó”. Chúng ta thường nói nhiều về những gì đang có: một đất nước hòa bình, ổn định. Đó chắc chắn là lợi thế, nhưng với thế giới, người ta sẽ đặt câu hỏi: “Rồi sao nữa”? Một quốc gia hòa bình thì có ý nghĩa gì với họ? Vấn đề không chỉ nằm ở việc sở hữu những điểm mạnh, mà quan trọng hơn là chúng ta làm gì với những điểm mạnh ấy. Theo TS Đỗ Anh Đức, truyền thông thương hiệu quốc gia không thể chỉ “quảng bá cái sẵn có” mà phải “kiến tạo giá trị”. Việt Nam có nhiều di sản, nhiều món ăn ngon, nhưng giá trị chỉ được tạo ra khi chúng ta kể câu chuyện đằng sau: lịch sử, ý nghĩa và triết lý của từng yếu tố văn hóa. Việt Nam đang đứng trước nguy cơ “làm thương hiệu bằng khẩu hiệu”. Ông nhận xét: “Thế giới không chỉ quan tâm bạn có cái gì, họ muốn biết bạn làm gì với những thế mạnh đó”. Thay vì tiếp cận theo tư duy mùa cao điểm, ngành du lịch cần chuyển sang “làm thương hiệu quanh năm”. Những điểm đến như Hội An đang đi trước một bước: biến di sản thành “di sản sống”, để người dân tham gia vào quá trình gìn giữ, tạo ra sản phẩm du lịch tự nhiên và chân thực. Thế giới đang bước vào giai đoạn quá tải công nghệ. Khi trí tuệ nhân tạo (AI) thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, nhu cầu tìm kiếm giá trị nhân văn sẽ trở thành xu hướng lớn của du lịch toàn cầu. Đây là cơ hội để Việt Nam tận dụng bản sắc văn hóa trọng tình, trọng nghĩa, trọng cộng đồng để định vị thương hiệu quốc gia. Ông nhấn mạnh: “Khách quốc tế thích múa rối nước của Việt Nam không chỉ vì nghệ thuật, mà bởi họ tìm thấy sự hồn nhiên, chất phác đã đánh mất trong xã hội công nghiệp”. Theo ông, nếu biết cách nâng tầm giá trị nhân văn này, Việt Nam có thể trở thành điểm tham chiếu toàn cầu cho những ai tìm kiếm sự gắn kết cộng đồng và bản sắc văn hóa. HẠNH ĐỖ Đòn bẩy chính sách Ngành du lịch Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc, nhờ một loạt chính sách chiến lược giúp mở rộng thị trường, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng sức cạnh tranh điểm đến. Mô hình kiểu “di sản sống” giúp kéo dài thời gian lưu trú của du khách ẢNH: IT Từng cuốn mộc bản quý giá đang được lưu giữ như báu vật tại chùa Vĩnh Nghiêm Hiện chùa Vĩnh Nghiêm đang lưu giữ hơn 3.000 mộc bản

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==