Báo Tiền Phong số 255/2025

7 n Thứ Sáu n Ngày 12/9/2025 KHOA GIÁO biệt việc thiếu công bố quốc tế trong hồ sơ xét duyệt khiến chức danh GS, PGS Việt Nam ít được công nhận ở nước ngoài, làm ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam, đặc biệt khi đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng. CẦN CƠ CHẾ ĐÁNH GIÁ ĐA CHIỀU Trao đổi với phóng viên, GS.TS Trần Văn Chứ, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Lâm nghiệp, nguyên Thư kí HĐGS liên ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp chia sẻ, từ khi Quyết định 37 thay thế Quyết định 174 (về xét công nhận tiêu chuẩn chức danh GS, PGS) và đưa tiêu chí bài báo quốc tế vào đánh giá ứng viên GS, PGS, vấn đề này hầu như năm nào cũng gây tranh cãi trong dư luận. Nguyên nhân là do sâ khác biệt rõ rệt giữa các lĩnh vâc: Đối với khối khoa học tâ nhiên, kĩ thuật, việc công bố quốc tế là thông lệ phổ biến, trong khi đó ở các ngành khoa học xã hội, nhân văn hay nghệ thuật, số lượng tạp chí quốc tế uy tín rất hạn chế, rào cản ngôn ngữ và tính đặc thù bản địa khiến việc xuất bản khó khăn hơn. Ngoài ra, sâ chênh lệch về điều kiện nghiên cứu giữa các trường lớn ở trung tâm và các cơ sở địa phương cũng tạo nên lo ngại về tính công bằng. TÈnh trạng chạy theo số lượng, công bố ở tạp chí kém uy tín khiến dư luận hoài nghi về chất lượng thâc sâ của các bài báo quốc tế. Cùng với việc danh hiệu GS, PGS luôn được xã hội quan tâm, mỗi mùa xét duyệt lại xuất hiện ý kiến trái chiều xoay quanh việc tiêu chí này có thâc sâ nâng cao chất lượng hay chỉ tạo thêm áp lâc và bất bÈnh đẳng cho ứng viên, khiến câu chuyện chưa bao giờ hết nóng trong nhiều năm qua. “Phải nói rằng Quyết định 37 không trâc tiếp gây ra tÈnh trạng mua bán bài báo mà là hậu quả của sâ thay đổi trong quy định về yêu cầu công bố khoa học từ các văn bản trước đó, kết hợp với áp lâc lớn về số lượng và chất lượng bài báo để đạt chuẩn chức danh và sâ thiếu sót trong công tác kiểm tra, giám sát, dẫn đến các hành vi tiêu câc như mua bán bài báo”, GS Trần Văn Chứ nói. Để khắc phục những tranh cãi xoay quanh tiêu chí bài báo quốc tế trong Quyết định 37, cần có các giải pháp đồng bộ, vừa bảo đảm hội nhập chuẩn mâc quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thâc tiễn Việt Nam. Trước hết, cần phân loại tiêu chí theo lĩnh vâc: Với khoa học tâ nhiên, kĩ thuật có thể yêu cầu bài báo quốc tế uy tín; với khoa học xã hội, nhân văn và nghệ thuật, có thể công nhận thêm công bố trong tạp chí quốc gia được xếp hạng, sách chuyên khảo, hay công trÈnh có tác động thâc tiễn cao. Thứ hai, cần xây dâng và công bố danh mục tạp chí uy tín, đồng thời loại bỏ các tạp chí “ăn phí” kém chất lượng để hạn chế việc chạy theo số lượng. Thứ ba, Nhà nước và các cơ sở đào tạo cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, và đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng năng lâc công bố quốc tế cho giảng viên trẻ. Chuyên gia cho rằng, cần nâng cao tính minh bạch trong xét duyệt: Quy trÈnh, hồ sơ, minh chứng phải được công khai, đồng thời mời các chuyên gia độc lập phản biện, tránh tÈnh trạng nể nang hay “lách luật”. Nên có cơ chế đánh giá đa chiều: Không chỉ dâa trên số bài báo, mà còn cân nhắc tác động học thuật, đóng góp cho đào tạo, chuyển giao công nghệ và phục vụ xã hội, từ đó vừa giữ được chuẩn mâc học thuật, vừa giảm bớt áp lâc và tạo sâ công bằng hơn cho các ứng viên. NGHIÊM HUÊ GẦN 60 HỌC SINH/LỚP Một phụ huynh có con học lớp 7, tại một trường ở nội thành Hà Nội cho biết, sĩ số học sinh/lớp của con từ lớp 6 đến nay xê dịch từ 57-59 em. Học sinh ở độ tuổi phát triển, bàn ghế kê san sát, di chuyển trong lớp cũng rất khó khăn. “Đi họp phụ huynh cho con, thấy bàn đầu được kê sát sạt với bàn giáo viên, ngước mặt là bảng. Không gian lớp học chật chội, bức bí sẽ ảnh hưởng tâm lý, kết quả học tập”, phụ huynh này nói. Năm học 2025-2026, Trường THCS Đống Đa tuyển 707 học sinh lớp 6, chia 14 lớp, trung bÈnh 50,5 em/lớp. Bà Đào Thị Hồng Hạnh, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, trường chưa thể triển khai dạy học 2 buổi/ngày vÈ cơ sở vật chất chưa đáp ứng. Việc phân chia lớp học phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên và số lớp học. Năm ngoái, chỉ có hơn 600 học sinh lớp 9 tốt nghiệp ra trường, thấp hơn số học sinh tuyển vào. Tương tâ, Trường THCS Đại Kim, phường Định Công hiện có 2.900 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Với sâ nỗ lâc rất lớn, trường này đã tổ chức dạy học 2 buổi/ngày tuy nhiên, thiếu phòng học, học sinh phải nghỉ luân phiên 1 ngày trong tuần và học cả ngày thứ 7 gây khó khăn, áp lâc cho học sinh. Để bố trí chỗ ngồi đủ cho hơn 50 học sinh/lớp, giải pháp của Trường THCS Đại Kim là “đặt thiết kế riêng” bàn dài 1,5 mét cho 3 học sinh, thay vÈ 1,2 mét ngồi 2 học sinh như quy định. Cũng may, trường được xây mới, phòng học khá rộng nên có thể sắp xếp được 24 bàn học ở mỗi phòng. Bà Phạm Thị Thanh Hà, Hiệu trưởng Trường THCS Đại Kim cho biết, sĩ số học sinh trung bÈnh khoảng 50 em/lớp, trong đó lớp cao nhất 55 em. Từ khi thành lập năm 2020 trường chỉ có 1.500 học sinh đến nay sau 5 năm hoạt động, số học sinh tăng gần gấp đôi. Bà Hà chỉ ra nguyên nhân, trên địa bàn có nhiều chung cư cao tầng, dân số cơ học tăng nhanh. Thâc tế, có 2 trường tiểu học gồm: Tiểu học Đại Kim, Tiểu học Đại từ đều thuộc tuyến tuyển sinh của trường THCS nên mỗi năm vào lớp 6 tăng 300 em. Số lượng học sinh tăng nhanh, gây áp lâc với trường, lớp, sĩ số đã đành, nhà trường cũng phải “chạy theo” lo chuyện thiếu giáo viên. “Năm nay vừa được giao đủ đội ngũ, năm sau học sinh tăng lại thiếu, phải ký hợp đồng”, bà Hà nói. GIÁO VIÊN ÁP LỰC Bà Thanh Hà nói rằng, Bộ GD&ĐT quy định ở bậc THCS mỗi lớp 45 học sinh. Thâc tế lớp học đông hơn, giáo viên sẽ vất vả, thầy cô không có nhiều thời gian quan tâm đến từng học sinh. Trước đây, nhà trường đã nhiều lần kiến nghị UBND phường xây trường THCS mới để tách học sinh, giảm số lượng, giãn sĩ số xuống mức thấp nhất. Được biết, phường cũng đã có kế hoạch giải phóng mặt bằng để xây dâng thêm trường học mới. Bà K, từng là hiệu trưởng một trường tiểu học ở quận Hoàng Mai (cũ) cho biết, có thời điểm sĩ số học sinh tiểu học lên tới con số 57-58 em/lớp trong khi quy định của Bộ GD&ĐT đối với bậc tiểu học là 35 em. Điều này dẫn đến khó khăn, vất vả rất lớn cho cả học sinh, giáo viên lẫn người quản lý. Phía học sinh, bàn ghế kê chật kín các lối đi, thậm chí ghép 2 dãy bàn lại sát nhau, không có không gian chạy nhảy, dãy bàn đầu kê sát rạt bàn giáo viên ảnh hưởng đến thị lâc. Chưa kể, trường học với gần 3.000 học sinh, số lượng nhà vệ sinh có hạn nên dù có huy động đội ngũ vệ sinh dọn dẹp thường xuyên cũng không xuể. Phía giáo viên, thầy cô rất vất vả khi phải dạy lớp quá đông học sinh, khó quan sát, quan tâm, nắm bắt sở trường từng em, từng nhóm năng lâc theo yêu cầu. Ông Đào Tân Lý, Trưởng phòng Giáo dục tiểu học (Sở GD&ĐT Hà Nội) cho biết, năm học này toàn thành phố giảm 1.000 học sinh tiểu học so với năm ngoái. Tuy nhiên vẫn xảy ra tÈnh trạng thiếu trường, lớp cục bộ ở một số nơi như: Phường Thanh Liệt, Phường Vĩnh Hưng, Phường Định Công… “Giải pháp của Hà Nội trong thời gian tới là tiếp tục rà soát, xây trường học mới nhằm giảm áp lâc, giãn sĩ số học sinh”, ông Lý nói. NGUYỄN HÀ Nan giải bài toán sĩ số học sinh/lớp vượt quy định Một lớp học đông học sinh ở Hà Nội Sĩ số học sinh/lớp đông vượt chuẩn, gây áp lực lên giáo viên đồng thời sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dạy học là bài toán khiến không ít trường học ở Hà Nội đau đầu tìm giải pháp tháo gỡ. Trước khi tuyển sinh đầu cấp năm học mới, Sở GD&ĐT Hà Nội yêu cầu các nhà trường thực hiện các giải pháp để tăng cường cơ sở vật chất trường, lớp, giảm số học sinh trái tuyến, giảm sĩ số học sinh/ lớp và tăng số học sinh được học 2 buổi/ ngày, tránh tình trạng có trường tuyển vượt chỉ tiêu, trong khi có trường không tuyển đủ học sinh gây lãng phí cơ sở vật chất, đội ngũ, tạo bức xúc cho người dân và dư luận xã hội. buộc); có khoảng 15-25 bài báo quốc tế, một số trường còn yêu cầu sách chuyên khảo. Đặc biệt, khi ứng viên xin chức danh GS, hồ sơ sẽ được gài tới các chuyên gia độc lập ở nước ngoài để phản biện, đảm bảo tính minh bạch. Tại Anh, một số trường vẫn dùng chức danh độc giảng viên (reader) thay cho PGS, trong khi đa số đã dùng thẳng danh xưng PGS (associate professor) như Úc và Mỹ. Điều kiện: Có khoảng 6-10 năm kinh nghiệm giảng dạy; công bố khoảng 20-30 bài báo quốc tế, cùng với khả năng hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Để trở thành GS, cần chứng minh uy tín khoa học quốc tế lâu dài, được mời làm diễn giả chính, tham gia các hội đồng biên tập tạp chí lớn. Ở Úc, hệ thống chức danh được chuẩn hóa quốc gia với 5 cấp độ: A - giảng viên tập sâ (associate lecturer), B - giảng viên (lecturer), C- giảng viên cao cấp (senior lecturer, gần tương đương PGS ở Mỹ), D - PGS, E - GS. Muốn được phong PGS (cấp độ D), ứng viên cần có: Tối thiểu 8-10 năm kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu; ít nhất 25-40 công bố quốc tế; vai trò lãnh đạo học thuật (chủ trÈ nhóm nghiên cứu, quản lý dâ án). GS (cấp độ E) đòi hỏi uy tín quốc tế, thường phải là tác giả chính của sách chuyên khảo, đạt được các khoản tài trợ nghiên cứu lớn và có tầm ảnh hưởng trong chính sách hoặc ứng dụng thâc tiễn. Ở Nga, học hàm GS/PGS là danh hiệu học thuật quốc gia, không chỉ gắn với một trường đại học. Yêu cầu chính: Bằng tiến sĩ (kandidat nauk) để được xét PGS, bằng tiến sĩ khoa học (doktor nauk) để được xét GS; công bố từ 20-30 bài báo khoa học (trong đó một phần phải đăng trên tạp chí được hệ thống VAK công nhận); tối thiểu 5 năm giảng dạy đại học; đã hướng dẫn thành công nghiên cứu sinh. Danh hiệu do Bộ Khoa học và Giáo dục đại học Nga trao, sau khi trường đại học đề nghị và hồ sơ được phản biện. THÁI AN

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==