THỜI KHẮC THIÊNG LIÊNG Ba tiếng “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” không chỉ vang lên như hồi chuông thức tỉnh, mà đã hóa thành nhịp đập của trái tim dân tộc, thành mạch nguồn nuôi dưỡng khát vọng và ý chí Việt Nam suốt 80 năm qua. Chúng ta có quyền tự hào, nhưng không bao giờ được phép lãng quên: Độc lập không phải món quà trời ban, càng không phải đặc ân của lịch sử. Độc lập là cái giá đắt được trả bằng xương máu, bằng những năm tháng gông cùm, khói lửa, bằng sự hy sinh của biết bao lớp người đã ngã xuống trước khi Tổ quốc kịp gọi tên họ. "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Lời mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là bản dịch của tuyên ngôn Mỹ - Pháp, mà là sự đòi lại lẽ công bằng cho cả một dân tộc từng bị phủ nhận nhân phẩm trong hàng thế kỷ. Độc lập của dân tộc Việt Nam là độc lập từ trong huyết mạch. Từ Hai Bà Trưng đến Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi - Nguyễn Trãi, Quang Trung... rồi đến Hồ Chí Minh- những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc là khúc hùng ca bất tận, là tiếng vọng của lòng yêu nước cháy bỏng qua từng thế kỷ. Và rồi, ngày ấy, 2/9/1945, Việt Nam chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia Độc lập trên bản đồ thế giới. Nhưng độc lập không phải là điểm kết - đó mới chỉ là khởi đầu cho một hành trình giữ nước, dựng nước đầy gian nan. Trong những ngày đầu độc lập, Bác Hồ từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Một câu nói giản dị, mà lay động đến tận đáy lòng. Tự do - với Bác - là khi người nông dân có ruộng cày, trẻ con được đến trường, người phụ nữ được tôn trọng, người nghèo được chữa bệnh, người dân được nói lên suy nghĩ của mình mà không sợ hãi. Tự do - là ngọn gió từ những cánh đồng lúa vàng yên ả, là tiếng cười của những đứa trẻ vùng cao trong buổi sáng đến lớp, là quyền được mơ, được yêu, được làm chủ số phận mình. Ngay sau khi giành được chính quyền, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổ chức Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu - điều mà nhiều nước phát triển khi ấy còn chưa làm. Một đất nước chưa đầy ba tháng tuổi đã trao quyền lực về tay Nhân dân - đó là minh chứng đẹp đẽ nhất cho tư tưởng tự do mà Bác Hồ theo đuổi. Một ngày trước khi diễn ra cuộc Tổng tuyển cử, Bác có “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu”, đăng trên báo Cứu Quốc số 134, ngày 5/1/1946. “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình...”. HÀNH TRÌNH ĐẾN HẠNH PHÚC 80 năm qua, dân tộc ta đã không ngừng đi tìm một định nghĩa thiết thực cho hai chữ “hạnh phúc”: đó không chỉ là cơm no, áo ấm, mà còn là sự bình đẳng, là niềm tin vào tương lai, là được sống một cuộc đời có ý nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia có chỉ số hạnh phúc tăng cao nhất châu Á trong những năm gần đây. Những con số ấy không chỉ đến từ tăng trưởng GDP, mà là chỉ dấu của một thể chế nhân văn, lấy con người làm trung tâm của mọi chính sách. Độc lập, Tự do, Hạnh phúc - không thể có nếu thiếu những người dẫn đường. Từ năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ánh sáng của lý tưởng đã được thắp lên giữa đêm đen nô lệ. Từ những hầm mỏ Đông Dương đến rừng Trường Sơn, từ Điện Biên Phủ đến Dinh Độc Lập, từ chiến khu Việt Bắc đến hành lang Để từ Mùa Thống Nhất ấy, có thể hình dung về Mùa Độc Lập trước đó 30 năm, với cờ, hoa, nụ cười và nước mắt. Quê ngoại tôi ở thôn Cộng Hòa, xã Dân Chủ, thuộc huyện Phú Xuyên của tỉnh Hà Tây cũ. Tên làng tên xã rất quen thuộc ở miền Bắc sau Cách mạng Tháng Tám. Những tháng năm tuổi thơ tôi còn bắt gặp dấu vết ngày độc lập đầu tiên đọng sâu nơi làng xóm và những nếp nhà vùng chiêm trũng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thời ấy. Giao thông hào, hố bom, những khẩu hiệu trên tường vôi sân đình, hợp tác xã. Những tổ hợp tác, tổ dân quân, phụ nữ, phụ lão, thiếu nhi đêm ngày lao động sản xuất, thi đua cấy cày, đào đắp thủy lợi, trực chiến giặc trời... Mùa Độc Lập, nhưng vẫn đạn bom. Anh em tôi từ Hà Nội về quê sơ tán, vẫn phải chui vào hầm thường xuyên. Nghe mảnh bom bi cắm phầm phập trên đầu, đạn pháo cao xạ ầm ào, hé ra thấy máy bay giặc cháy phừng phừng. Người chị cả của bà ngoại tôi, một ngày nhận giấy báo tử của hai người con sinh đôi từ chiến trường miền Nam gửi về. Đến giờ vẫn chưa biết các anh tôi đang nằm nơi đâu... Mùa Độc lập, nhưng chưa thực sự hòa bình, vì giới tuyến còn cắt ngang dòng Bến Hải. Ở trong Nam, anh Hai tôi hy sinh trên dòng sông Trà Khúc quê hương khi mới 19 tuổi, đến nay vẫn chưa tìm được. Chỉ đến Mùa Thống Nhất 1975, thì độc lập tự do mới thực vẹn tròn. Dẫu đói, khổ, nhưng an yên. Cả đất nước, mỗi cuộc đời chậm rãi, gắng gỏi vượt lên... Chuyến đi Trường Sa hồi cuối tháng 6 năm 2022, chiêm ngắm 9 ngôi chùa trên quần đảo bão tố này, tôi chợt nhận ra tinh thần độc lập hiện diện trong mỗi nếp nâu thiền. Đó là gần như không trùng lặp về kiến trúc, kiểu dáng lẫn hoành phi, câu đối... Đó là những ngôi chùa thuần Việt, từ kiến trúc, kiểu dáng, chi tiết, dấu Quốc huy đóng trên đồ thờ, và in trên từng viên gạch, từng đại hồng chung, đến cửa võng, hoành phi câu đối thuần chữ Việt, và toàn bộ các pho tượng cũng thuần Việt từ gương mặt tới tỷ xích cơ thể. Và cả 9 ngôi chùa đều quay hướng về trái tim đất nước là Thủ đô Hà Nội. Cùng với những cụm không gian đình- đền - đài trên mỗi đảo, tôi như được trở lại những làng mạc Việt cổ ngàn xưa, giữa bốn bề sóng gió. Thinh không từng tiếng chuông vang pháp giới lẫn đời thường, trên những tầng cây phong ba vững chãi... Để thấy dù đứng ở bất kỳ góc trời nào của Tổ quốc, thì vẫn luôn trọn vẹn bên mình một giang sơn Tổ quốc thu nhỏ, như ở giữa đại dương này. Nhớ lần đầu ra Trường Sa tháng 4 năm 1998. Nhặt được trên tờ báo tường ở đảo Đá Lớn hai câu thơ: “Tuổi 20 chân đi không bén đất/Đám mây trời bay dưới ba lô”. Hay quá! Sau mới biết tác giả là nhà thơ quân đội Anh Ngọc. “Có một bận trong đời/Anh nhìn thấy Trường Sơn thật thấp/ Tuổi 20 chân đi không bén đất/ Đám mây trời bay dưới ba lô” (Thơ mùa xuân đọc lại giữa mùa thu). Nghĩ về sự lãng mạn pha lẫn khí phách của biết bao thế hệ ngàn năm qua thay nhau bồi đắp lên đất nước mình. * Nhìn vào lịch sử, bất kỳ nền Độc lập nào cũng đều phải tranh đấu và bồi đắp bằng máu, mồ hôi và nước mắt. Dân tộc nào, thời đại nào cũng vậy. Từ nền độc lập đầu tiên trong lịch sử loài người khi hai miền của Ai Cập cổ đại được thống nhất từ 3100 năm trước Công nguyên. Cho đến những quốc gia, vùng lãnh thổ đến nay vẫn chưa thể giành độc lập, như Palestine còn chìm trong ách chiếm đóng, giữa đạn bom, chết chóc. Nước Việt ta suốt chiều dài lịch sử đã bao lần khẳng định độc lập một cách mãnh liệt. Không phải đợi đến bài thơ thần Nam quốc sơn hà Nam đế cư (năm 1076) của Lý Thường Kiệt mới là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên. Mà trước đó hàng ngàn năm, khởi nghĩa Hai Bà Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử đầy nắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh - với giọng nói trầm ấm, trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bác Hồ thăm nông dân hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, gặt mùa năm 1954 ẢNH: TTXVN Hạnh phúc là hoa trái kết tinh Mùa Độc Lập 2 HỒN THIÊNG SÔNG NÚI n SÕ 242+243+244+245 TIẾP THEO TRANG 1
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==