Báo Tiền Phong số 242/2025

MỐC SON TRONG ĐỜI CÔNG TÁC Đầu năm 2000, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Đình Bin được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Trong thời gian làm Chủ nhiệm Ủy ban, ông đã nỗ lực rất nhiều góp phần ra đời Nghị quyết 36-NQ/TW mà ông gọi là “mốc son trong đời công tác”. Đây là nghị quyết công khai đầu tiên về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) với tên gọi Nghị quyết 36-NQ/TW, ban hành ngày 26/3/2004. Nghị quyết 36-NQ/TW là bước cụ thể hóa và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đối với đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài - một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đây là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử, mở ra một thời kỳ mới, có giá trị cơ bản, to lớn, toàn diện và lâu dài, đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nguyên Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin chia sẻ: “Tôi bồi hồi nhớ lại quá trình nảy sinh ý tưởng, thai nghén, đề xuất, rồi xây dựng và hoàn thiện dự thảo để rồi sau 4 năm ròng rã, Nghị Quyết đã được Bộ Chính trị chấp thuận và ban hành”. CHỦ ĐỘNG TIẾP XÚC, GỠ “NÚT THẮT” ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Sau hơn 20 năm kể từ lần gặp mặt đầu tiên và chủ động mời tướng Nguyễn Cao Kỳ - cựu Phó Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) về thăm quê hương, cho tới giờ, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Đình Bin, dù đã ngoài 80 tuổi, vẫn nhớ như in thời điểm ấy, ngày mà nút thắt cho công cuộc đại đoàn kết dân tộc được mở ra. Nguyên Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin luôn tâm niệm rằng: “Chúng ta đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995, Hiệp định thương mại song phương được ký năm 2000; đã bình thường hóa và thiết lập quan hệ bạn bè và đối tác tin cậy với tất cả các nước đã từng đô hộ và xâm lược nước ta. Vậy, đối với những đồng bào ở phía bên kia chiến tuyến, xét cho cùng, cũng là nạn nhân của sự xâm lược ngoại bang, tại sao chúng ta không hòa giải được?”. Cùng với việc kiến nghị Bộ Chính trị cho ra đời một nghị quyết mới và công khai về công tác đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, tháng 6/2003, ông kiến nghị cử một đoàn liên ngành đầu tiên của Việt Nam đi thăm và tiếp xúc với cộng đồng người Việt tại Canada và Mỹ trên tinh thần chủ động, thẳng thắn, cởi mở. Ông chủ động đề xuất gặp gỡ cựu Quốc trưởng VNCH Nguyễn Khánh, cựu Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ. Ông đề nghị cơ quan đại diện Việt Nam tại Mỹ thăm dò, được biết, ông Nguyễn Khánh từ chối, còn ông Nguyễn Cao Kỳ nhận lời. Về cuộc gặp gỡ với cựu Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin nhớ lại: “Lúc đó, tôi xác định là cứ gặp thôi, tùy cơ ứng biến. Tôi biết vợ chồng ông Nguyễn Cao Kỳ chơi golf rất giỏi, nên mình cứ theo phong cách ngoại giao ASEAN, gặp nhau lần đầu tiên trên sân golf là thích hợp nhất. Tôi điện cho Tổng lãnh sự nước ta ở San Francisco Nguyễn Mạnh Hùng đề xuất mời vợ chồng ông Nguyễn Cao Kỳ chơi golf với tôi và Tổng Lãnh sự. Ông Kỳ đồng ý ngay”. Trong cuộc chơi golf đó, ông Bin đã chủ động thể hiện thiện chí, sẵn sàng trao đổi cởi mở, thẳng thắn và điều quan trọng nhất phải nói cho ông Nguyễn Cao Kỳ hiểu đường lối chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam hiện nay đã thay đổi như thế nào, nhất là với kiều bào. Kết thúc cuộc chơi golf, ông Bin mời vợ chồng ông Nguyễn Cao Kỳ ăn trưa. Cuối bữa ăn, ông Bin nói: “Với tư cách Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, tôi chính thức mời anh chị về thăm quê hương đất nước”. Khoảng 6 tháng sau, khi ông Bin đang làm Đại sứ Việt Nam tại Pháp thì hay tin ông Nguyễn Cao Kỳ về thăm quê hương và cũng vài tháng sau đó, ngày 26/3/2004, Nghị quyết 36-NQ/TW được chính thức ban hành. Tại cuộc họp báo ngày 15/1/2004 tại TPHCM khi trở về Việt Nam sau gần 30 năm xa xứ, ông Nguyễn Cao Kỳ chia sẻ, mặc dù cũng có sự chống đối trong cộng đồng người Việt tại Mỹ trước chuyến đi, nhưng ông không bận tâm vì khi tâm của ông hướng về dân tộc, đất nước, ông vẫn lên đường trở về, bất chấp những sự phản đối, chống đối của nhóm thiểu số. LAN ANH Hơn 20 năm trước, Nghị quyết 36-NQ/TW về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) ra đời, là bước ngoặt lớn trong công tác kiều bào của Đảng, Nhà nước. Để nghị quyết này ra đời là nỗ lực của nhiều vị lãnh đạo, trong đó có nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Đình Bin - người đã thai nghén, đề xuất chủ trương, miệt mài vận động, thuyết phục các cơ quan trong nước và cả những nhân vật chủ chÕt của chế độ cũ để tìm được tiếng nói chung… Ông Nguyễn Đình Bin trong cuộc gặp gỡ với Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Pháp ẢNH: NVCC Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan ngôi nhà 44 Hàng Ngang - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Tuyên ngôn Độc lập ẢNH:VIẾT THANH Người luôn đau đáu “hòa hợp dân tộc” quý hơn độc lập, tự do” thực sự trở thành ngọn cờ hiệu triệu, cổ vũ toàn thể nhân dân Việt Nam vùng lên chiến đấu, là nền tảng cho tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Theo ông Vũ Mạnh Hà, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, dưới ánh sáng của chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, biết bao thế hệ người dân Việt Nam đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, chiến đấu không tiếc máu xương không chỉ để bảo vệ tấc đất quê hương, mà cao hơn, để bảo vệ nền độc lập, thống nhất và tự do của dân tộc. Cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ ấy đã đi đến thắng lợi vĩ đại vào Mùa Xuân năm 1975 - một chiến thắng không chỉ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mà còn khẳng định trước thế giới rằng: không có thế lực nào có thể khuất phục được một dân tộc mang trong mình lý tưởng độc lập, tự do. Từ đây, đất nước Việt Nam bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ khôi phục và phát triển, song chân lý “không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, khi công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986, tư tưởng “không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” tiếp tục được Đảng cụ thể hóa bằng đường lối phát triển kinh tế độc lập, tự chủ, mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở giữ vững chủ quyền quốc gia. Trải qua 80 năm, đất nước Việt Nam đã đổi thay sâu sắc, từ một quốc gia nô lệ, nghèo nàn, bị tàn phá bởi chiến tranh, giờ đây, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Tuy vậy, theo ông Hà, trong bối cảnh hiện nay, giữ vững độc lập không chỉ là độc lập chủ quyền lãnh thổ mà còn là độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Tự do không còn bó hẹp trong khái niệm pháp lý, mà là tự do sáng tạo, tự do tiếp cận tri thức, tự do vươn lên làm chủ cuộc đời… Đặc biệt, trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, độc lập, tự do còn là quyền sáng tạo, là năng lực cạnh tranh quốc gia, là sự tự chủ về công nghệ và tri thức. Đó chính là thước đo mới của khát vọng “Độc lập, Tự do” mà Bản Tuyên ngôn Độc lập đã gieo mầm từ 80 năm trước. VĂN KIÊN “Tuyên ngôn Độc lập chính là tiếng vọng từ ngàn đời, là cội nguồn ý chí, bản lĩnh, khát vọng độc lập, tự do của các thế hệ người Việt Nam trong hành trình dựng nước và giữ nước trải dài hàng mấy thiên niên kỷ”. PGS.TS NGUYỄN ĐỨC NHUỆ, Chủ tịch Hội đồng khoa học - Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Khi còn công tác, ông Nguyễn Đình Bin cũng tiếp xúc với ông Nguyễn Ngọc Hải, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ chính nghĩa quốc gia của thành phố Houston, Mỹ - một người chống cộng sản. Sau cuộc đối thoại thẳng thắn tại tư gia của ông Hải ở Mỹ, một thời gian sau, ông Hải đã về thăm quê sau gần 50 năm xa cách và được trao giấy miễn thị thực xuất nhập cảnh mỗi khi về Việt Nam (cho các kiều bào tiêu biểu). “Ông Bin đã nhuộm đỏ tôi”, ông Hải đã chia sẻ hôm nhận giấy miễn thị thực xuất nhập cảnh... 11 n SÕ 242+243+244+245 HỒN THIÊNG SÔNG NÚI

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==