Tiền Phong số 333

8 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Năm n Ngày 28/11/2024 KỲ THÚ MỘT LỄ CÚNG Một sáng tinh sương, nơi khoảng đất rộng, bằng phẳng ở xã Cư Suê (huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk), đoàn người trong trang phục truyền thống dân tộc Êđê tất bật chuẩn bị lễ vật. Dưới bóng cây cổ thụ, 2 con heo, 5 con gà trống, 3 ché rượu cần, 20 vòng đồng, 3 chuỗi hạt, 3 chén đồng, 3 tô đồng, 1 mâm đồng, 1 cây chuối tươi, 1 cột lễ, 2 tượng biểu trưng cho thần Thiện và thần Ác, tượng heo rừng, sóc, chuột, mõ đuổi chim... được sắp xếp trình tự và ngay ngắn. Dưới ánh nắng ban mai, khuôn mặt già làng Y Nghi Êban (SN 1968, xã Cư Suê) lấp lánh. Ông cho hay, lễ cúng no đủ là một nghi lễ rất quan trọng đối với người Êđê. Nghi lễ này thể hiện mong ước cầu cho mưa thuận, gió hòa, rẫy nương tươi tốt và mùa màng bội thu. Tỷ mẩn bên 3 ché rượu cần, già nói, 3 ché rượu để phục vụ lễ cúng phải do chính người dân trong buôn dùng gạo và men ủ và nấu. Ngôi nhà sàn và những chiếc kho đựng lúa không thể thiếu. Ngoài kho lúa, người Êđê còn làm kho đựng các vật dụng sản xuất và các động vật rừng săn bắn đã được phơi khô. Theo già, trong cuộc sống của người Êđê, kho đựng lúa có vai trò rất quan trọng, không chỉ gìn giữ tài sản của gia đình mà còn tượng trưng cho sự no đủ, nên quá trình làm kho lúa, người dân làm rất tỉ mỉ. Khi mọi thứ tươm tất, mọi người tụ về bên bến nước buôn Sút M’drang, giọng già hoà lẫn trong thanh âm rộn rã cồng chiêng. Bài hòa tấu chiêng “Pah kngan Drông yang” (đổ nước vào ché mời khách) bắt đầu cho nghi thức cúng no đủ. Bài chiêng báo cho các vị thần và linh hồn ông bà về chứng giám và chung vui. Mọi người ngồi trang nghiêm, ngay ngắn chăm chú dõi theo từng hành động của thầy cúng. Ôm con gà, thầy cúng lần lượt đưa đến sát miệng từng chiếc ché, thực hiện nghi thức cúng. Đầu Bên bến nước, bà con buôn làng tụ về đầy đủ, mọi lễ vật chuẩn bị tươm tất, thanh âm cồng chiêng vang lên như mang hơi thở của ngàn xưa, nghi lễ cúng no đủ lại rộn ràng giữa đất trời bao la. Thanh âm ấy như lời động viên dân làng vươn lên trong cuộc sống với những ước vọng tốt đẹp cho tương lai. Các lễ vật được chuẩn bị và sắp xếp trình tự Những ché rượu cúng phải do người dân trong buôn dùng gạo và men ủ và nấu nNGUYỄN THẢO PHÓNG SỰ SÁNG TẠO GIỮA NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG LỊCH SỬ Hội nghị do Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận, phê bình (LLPB) Văn học Nghệ thuật T.Ư tổ chức. Trong phát biểu khai mạc, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhấn mạnh, những bước ngoặt lịch sử của đất nước đã tác động to lớn, sâu sắc vào sự phát triển của văn học Việt Nam. Văn học không chỉ phản ánh những gì đã xảy ra mà còn phải dự báo tương lai. Người viết cần đặt mình vào tâm thế của một kẻ đi tìm những giá trị mới, trong một thế giới biến động không ngừng. Cùng quan điểm, Chủ tịch Hội đồng LLPB Văn học nghệ thuật T.Ư, PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ nhấn mạnh tầm quan trọng của các tác phẩm văn học trong việc gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa dân tộc. “Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn học Việt Nam cần bám rễ sâu vào truyền thống văn hóa nhưng cũng phải tiếp nhận những dòng chảy hiện đại để vươn tới tầm vóc mới. Chỉ khi dung hòa được hai yếu tố này, văn học Việt Nam mới có thể ghi dấu ấn mạnh mẽ hơn trên bản đồ thế giới”, ông Kỷ nói. Năm 1975 không chỉ đánh dấu một bước ngoặt lịch sử quan trọng với ngày đất nước thống nhất mà còn mở ra một chương mới cho văn học Việt Nam. Trong báo cáo đề dẫn, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, nguyên Viện trưởng Viện Văn học khẳng định, văn học 50 năm qua đã đồng hành với dân tộc trong hành trình vượt qua những biến động lịch sử, văn hóa và xã hội. Ông nhấn mạnh: "Sau chiến tranh, văn học đã trở thành nhịp cầu nối liền những vết thương quá khứ, khơi dậy tinh thần đoàn kết dân tộc và khát vọng xây dựng đất nước. Từ sử thi thời chiến, chúng ta đã chuyển mình sang cái nhìn thế sự - đời tư, nơi văn học phản ánh sự phức hợp của con người trong một xã hội đổi mới". Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Bình Phương- một trong những tiếng nói nổi bật của văn học đương đại - chia sẻ: “Văn học thời hậu chiến đã thoát ly khỏi những khuôn mẫu sử thi để tìm kiếm những cách thể hiện mới, mạnh dạn đối diện với những phức tạp của hiện thực”. Ông ví văn học nửa thế kỷ sau ngày thống nhất đất nước vừa cần mẫn vá lại những vết thương, những rách nát của con người, vừa dìu con người lần hồi tiến về phía trước. ĐỊNH HÌNH CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO MỚI Một trong những điểm nổi bật của hội nghị là sự ghi nhận vai trò của các diễn ngôn mới trong văn học Việt Nam. Theo PGS. TS Trần Hoài Anh, sự xuất hiện của các diễn ngôn như diễn ngôn chấn thương, diễn ngôn sinh thái và diễn ngôn đô thị đã định hình những cách nhìn nhận và tiếp cận mới đối với hiện thực. Ông nhận định: “Những diễn ngôn này không chỉ phản ánh hiện thực một cách sắc nét mà còn làm phong phú thêm biên độ nghệ thuật, góp phần định vị văn học Việt Nam trên bản đồ văn học thế giới”. Hội nghị Lý luận, phê bình Văn học lần thứ V diễn ra ngày 27/11 tại Hà Nội, quy tụ những nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ và nhà phê bình hàng đầu. Với chủ đề “50 năm văn học Việt Nam từ 1975: Thành tựu và xu thế”, hội nghị làm nổi bật bức tranh toàn cảnh văn học Việt Nam, khơi gợi những câu hỏi lớn và mở ra những triển vọng mới mẻ. Nhà văn Nguyễn Một (thứ 3 từ trái qua) nhận Giải thưởng nhà văn Đông Nam Á 2022-2023 với tác phẩm Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín. Nguyễn Bình Phương cũng ẵm giải nhờ Một ví dụ xoàng MẠCH NGUỒN TÂY NGUYÊN CHẢY MÃI... Chờ văn chương Việt chinh phục quốc tế Kỳ cuối: Mùa no đủ Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận định, những bước ngoặt lịch sử của đất nước đã tác động to lớn tới sự phát triển của văn học Việt Nam VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1975: Sự xuất hiện của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) đã đặt ra những câu hỏi thú vị về tương lai của sáng tác. Nhiều đại biểu đồng thuận rằng, AI không thể thay thế cảm xúc và tinh thần nhân văn của con người - những yếu tố cốt lõi làm nên giá trị văn học.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==