1. Giống như những làn sóng nhỏ, từ những năm 85 - 95 của thế kỷ trước, từng đợt, từng đợt người Bắc vào Nam sinh sống ngày mỗi nhiều. Gia đình tôi là một điển hình. Bác cả anh ruột bố tôi vào Nam năm 1954, sau ngày thống nhất đất nước 1975, thư từ tin tức kết nối liên lạc, ông bà nội tôi lập tức “khăn gói quả mướp” đi tàu 1.800 cây số từ thành phố Nam Định vào thăm con. Bác tôi xa miền Bắc năm 18 tuổi, sau 21 năm, cậu bé ngày nào của ông bà tôi đã trở thành người đàn ông già dặn, tóc hói rụng một chút (bác tôi sớm hói đầu như gen di truyền nhà nội), với một cô vợ người miền Nam và bầy con hơn chục đứa. Tôi nhớ lần đầu vào Nam ra, ông nội tôi mang theo hạt giống ổi bo. Khi đó ông bà nội tôi có một cái vườn lớn nằm bên khuôn viên nhà thờ Khoái Đồng ngay giữa trung tâm thành phố. Vườn trồng nhiều cây xoan đào, chanh và ổi, nhưng chỉ có ổi găng, ổi mỡ quả nhỏ xíu như quả chanh, chứ chưa có loại ổi mà quả to như cái bát con. Ông bà gieo hạt giống, trồng nên “cây ổi miền Nam” trong sự ngưỡng mộ, ngỡ ngàng của lũ trẻ chúng tôi. Sau những chuyến vào Nam ra Bắc của ông bà, là đến những người anh em. Ông bà nội tôi có bốn người con trai, nên lần lượt, bác thứ hai, bố tôi – thứ ba, và chú út đều vào Nam thăm bác cả. Mỗi lần bố tôi “đi miền Nam” về, gia đình như được tưới tắm trong bầu không khí mới lạ. Một vài đồ dùng mới mẻ hiện đại bác tôi cho bố mang về, như chiếc máy ảnh, những chiếc đĩa hát… khiến chúng tôi náo nức. Hồi đó chỉ đi tàu hỏa, cụm từ “ba ngày ba đêm” thành quen tai với lũ trẻ chúng tôi. Tôi nhớ mình còn lạ với cả câu chuyện bố kể, rằng mùa đông phương Nam không lạnh. Dù bài học địa lý có thuộc lòng đi chăng nữa, chúng tôi vẫn há miệng xuýt xoa: “Bố ơi, tháng mười hai ở Sài Gòn người ta chỉ mặc mỗi cái áo sơ mi thôi hả bố? Không cần áo bông, áo len hả bố? Mặc áo bông, áo len là nóng chảy mồ hôi hả bố?...”. Và từ ngày đó, khoảng trời Sài Gòn trong tôi luôn là một khoảng nắng vàng rực rỡ. 2. Sự kết nối anh em, họ hàng bắt đầu cho những dự định tương lai của chúng tôi. Tôi tốt nghiệp đại học Sư phạm, vào miền Nam trước, ở với bác và các anh chị, đi xin việc. Ban đầu tôi tâm niệm có việc gì làm tạm cũng tốt, chứ chưa thể mong xin đi dạy học như nghề mình được đào tạo. Nhớ những ngày đầu đọc báo, mục Việc tìm người, tôi còn không biết “tạp vụ” là gì. Dù nghĩ “tạp vụ” cũng gần với lao công, hay dọn dẹp trà nước… nhưng sao tôi vẫn thấy hai chữ đó “oai” hơn “lao công”. Tôi hi vọng làm tạp vụ là một công việc sạch sẽ, kiểu như “nhân viên văn phòng”. Ngày đến nộp hồ sơ xin việc, tôi diện chiếc áo dài trắng thướt tha, chiếc áo đẹp duy nhất mình mang theo, với ý nghĩ người miền Nam cần trang trọng. Bác tôi dặn anh họ chở tôi đi bằng chiếc xe cúp “cánh én” của bác. Tới nơi, vị phó giám đốc trung tâm hay trưởng phòng nhân sự mời tôi ngồi xuống ghế trong phòng tiếp khách. Ông xem hồ sơ của tôi, nhìn tôi từ đầu đến chân và hỏi lại: “Em xin làm tạp vụ à?”. Tôi thành thật gật đầu, đôi mắt trong trẻo nhìn ông đầy hi vọng. Vị sếp lại hỏi: “Em có bằng đại học Sư phạm Văn à?”. Tôi dạ. Ông nói: “Em có biết làm tạp vụ là làm những gì không”. Rồi không để tôi trả lời, ông bảo: “Trung tâm đang cần người dọn vệ sinh cho các toilet, và cả rửa ly chén, lau bàn ghế… Nhưng nếu em có bằng đại học, thì em có thể sang tuyển ở bộ phận viết kịch bản cho phim học liệu. Em có làm được không?”. Ông giải thích rằng, đợt tuyển đó đã đóng sổ từ tuần trước, nhưng tôi có thể được thử cơ hội. Tôi đã có kết quả thử việc tốt, tuy nhiên sau đó lại được tuyển ở một tòa soạn báo, qua sự kết nối tình cờ của một người bạn. Do đó tôi thôi xin việc ở trung tâm. Từ đó đến nay, hơn 30 năm đã trôi qua, tôi không có dịp gặp lại vị sếp đó nữa, nhưng đến mãi bây giờ, ấn tượng trong tôi vẫn là sự ân cần, quan tâm, giúp đỡ rất hào sảng, giản dị. Ánh mắt ngần ngại của ông khi đó cho tôi thấy, ông không nỡ để “người có bằng đại học” lại đi làm những việc vất vả và không phù hợp. Sau này, tôi vẫn nghĩ, đó là vị sếp rất đặc trưng “người Sài Gòn” mà tôi may mắn được gặp. 3. Các em tôi và bố mẹ lần lượt vào Nam sau đó. Từ ngôi nhà nhỏ trong xóm hẻm sâu, bố mẹ tôi đã chuyển sang một ngôi nhà khang trang hơn trên con ngõ rộng. Các em tôi ban đầu vừa đi học vừa làm thêm: coi xe, trông coi nhà đang xây, bán phụ vải cho người bác khác ở chợ… cũng đã ổn định công việc. Em trai tôi lọt vào top hướng dẫn viên du lịch quốc tế được khen ngợi, em gái cũng top booker xuất sắc của năm trong một hãng hàng không lớn. Chúng tôi không còn ngạc nhiên với hai mùa mưa nắng, không còn phải lắng tai nghe “tiếng miền Nam” ríu rít chưa hiểu hết. Chúng tôi trở thành những công dân của Thành phố Hồ Chí Minh từ khi nào chẳng rõ, ngót nghét đã hơn 30 năm. Tuổi trẻ gắn bó với Sài Gòn, lấy vợ lấy chồng, sinh con - hai con tôi đều “chôn rau cắt rốn” trên đất này. Người bố thân yêu của chúng tôi cũng chọn đất này để nằm lại yên nghỉ. Tôi vẫn nhớ như in những ngày đầu biết đến nhà thờ Đức Bà, hồ Con Rùa, bến Nhà Rồng, dinh Thống Nhất… rồi những địa danh Ngã ba Ông Tạ, cầu Công Lý, Bảy Hiền, Tân Sơn Nhất, Thanh Đa, Chợ Lớn, Gia Định… Giống như bao người di cư khác, đất lành chim đậu, chị em chúng tôi, thế hệ thứ hai vừa hòa vào dòng chảy của Sài Gòn sôi động mỗi ngày, vừa mang theo nỗi nhớ quê hương với vườn ổi xưa, ngôi nhà cũ, và nhất là những cảm xúc của chính mình ngày thơ bé. Khó thể tả được cảm xúc của tôi sau nhiều năm về thăm lại thành Nam, nhìn cánh cổng tróc sơn của ngôi nhà nơi tuổi thơ chúng tôi gắn bó với bao vui buồn. Chạm nhẹ tay vào lớp sơn lành lạnh, ngỡ như ngày xưa mình còn nhỏ, ngồi học bài, gió mùa đông bắc hun hút đêm khuya. Cảnh như trong ca khúc Kỷ niệm của nhạc sĩ Phạm Duy: mẹ tôi ngồi khâu áo, bố tôi lui cui sửa một thứ vật dụng cũ kỹ nào đó, và thay vì “tôi nghe tiếng còi tàu” thì ở khu nhà cũ của chúng tôi, tiếng chuông nhà thờ thánh thót thong thả vang lên… Trong những buổi họp mặt gia đình đầm ấm, cậu em út tôi thổ lộ: “Em mong sau này làm việc, có tiền, nếu họ bán, em mua lại ngôi nhà xưa ngoài Nam Định”. Cách đây 10 năm, 20 năm, chúng tôi ai cũng xúc động, ngầm đồng ý với em tôi, người xa thành Nam khi tuổi còn nhỏ nhất. Nhưng giờ đây, hơn 30 năm, em trai tôi dù có thể đủ tiền mua lại căn nhà xưa, chúng tôi cũng đâu thể trở về tuổi thơ. Trong một lần gần đây nhất, chúng tôi đưa mẹ về thăm lại xóm cũ thì cũng đã vắng bóng dáng cao gầy thân thuộc của bố tôi. Nhớ ngày xưa, nghe tiếng bước chân bố ngoài ngõ, chưa thấy người, con Ki đã sủa vang mừng rỡ… Trong nỗi buồn mang mang nghĩ về thời gian một phần ba thế kỷ trôi qua, chợt nhiên tôi ngộ ra rằng: chúng ta lớn lên, đi xa, lập nghiệp, chọn quê hương thứ hai, đến một ngày nào đó có lẽ không trở về bằng đôi chân nữa, thì những địa danh yêu thương cũ vẫn luôn còn đó, đâu cần phải có một ngôi nhà thực thể. Ta có mất gì đâu khi ta đang sống trên đất nước của mình. Tôi nhìn thấy những ngày xuân, trong ngôi nhà miền Bắc dìu dịu mưa phùn óng ánh những nhành mai; trong nhà chúng tôi nơi “khoảng nắng vàng rực rỡ” phương Nam lại chưng cành đào hồng thắm. Có lẽ bây giờ không ai thắc mắc hay lạ lẫm nữa, bởi giản đơn: ta đang sống trên đất nước của mình. q BÍCH HẠNH Ta đangsống trên đất nước của mình SỨC VƯƠN PHÙ ĐỔNG 66 Xuân
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==