Báo Tiền Phong xuân Bính Ngọ 2026

trong lòng với những dòng sông quê hương. Tôi đã được đi nhiều trên đất nước mình, đến nhiều dòng sông và có nhiều kỷ niệm. Tôi đã đến những dòng sông ở hai địa đầu đất nước. Một sáng tinh sương mặt trời còn chưa mọc, tôi đã đứng ngắm núi non và dòng sông dưới hẻm núi sâu thẳm ở Lũng Cú, Hà Giang, nhớ đến mối tình xưa của nhà văn Nguyên Ngọc và cô gái Mông Thảo Mỷ rồi viết câu thơ “Mã Pi Lèng ơi ta chào nhé/ Nho Quế dòng xanh chảy miệt mài”. Tôi từng đi tàu thủy từ Cà Mau xuống Năm Căn rồi thuê một cái xuồng cao tốc phi từ đó xuống Đất Mũi, tổng cộng cả trăm cây số mà không biết mình đã qua những sông nào Cái Lớn hay Ghềnh Hào hay Ông Đốc…, chỉ biết là mênh mông là dằng dặc những sông những nước, những kênh những rạch và các cánh rừng đước, mắm, dừa nước… Để rồi đi thuyền trên sông Rạch Tàu ngầu đục phù sa và dày đặc những tàu bè mà ngắm nhà cửa, tiệm hàng ken dày, dân cư đông đúc của xã Đất Mũi cực Nam của Tổ quốc. Tôi cũng từng đi trên những dòng sông lớn nhất của đất nước. Đã từng thức trọn đêm trên cầu Chương Dương khi nó mới được làm xong và bắt đầu thu phí vào cuối những năm tám mươi, nhìn xuống đen thẫm sông Hồng - dòng sông Mẹ của đất Bắc mà ngẫm ngợi những nỗi niềm châu thổ. Nhưng đoạn sông Hồng tôi hay đi cách đó chừng một trăm cây số về phía thượng nguồn. Đã nhiều năm, cứ vào mùa Xuân, gần dịp Thanh minh, tôi lại theo một đoàn phật tử đi thuyền rước nước (lấy nước và đất phù sa mới về bồi tưới phần mộ tổ tiên và cây cối) trên sông Hồng gần ngã ba Bạch Hạc - Việt Trì, Phú Thọ, nơi gặp nhau của ba con sông Hồng, Đà và Lô, tạo nên hai luồng nước bên trong, bên đục trước khi hoà lẫn vào nhau. Một lần trên con thuyền như thế, tôi đã viết bài thơ “Rước nước” trong đó có những câu: “Thuyền lên Bạch Hạc ngả ba/ Đống cồn mọc giữa phù sa mỡ màng/ Bãi bờ cỏ rối mang mang/ Giữa dòng trong - đục hai hàng chảy xuôi/ Duềnh lên dòng lẫn nhau rồi/ Thể như thiện – ác bể đời khó minh/ Chân mây rạng cõi nhân sinh/ Bầu trời, cảnh Phật bỗng linh sắc hồng/ Doi bồi nay có mai không/ Ngẫm trong trời đất thần thông, vô thường”. Tôi cũng từng nằm xà lan chở đầy lúa trôi mấy ngày trên sông Tiền rộng mênh mông. Ấy là khi cả đại đội học viên quân sự chuẩn bị được gửi sang du học bên Tây gồm chủ yếu là lính cậu chúng tôi được điều đi gặt lúa ở Hậu Giang đầu những năm tám mươi đói kém. Tôi đã qua những con sông nổi tiếng của miền Trung, trong đó nhiều sông tên chỉ có một từ, những Chu, Mã, Lam, La, Gianh, Hương, Hàn, Côn, Ba… những con sông không chỉ trọng yếu về địa lý mà còn ngát hương lịch sử, văn hóa. Tôi có những rung cảm mạnh với sông Ba ở Phú Yên, một phần bởi mảnh đất này do một tiền bối đồng hương Thanh Hóa (tướng Lương Văn Chánh của Chúa Nguyễn Hoàng) chỉ huy cuộc khai phá hồi thế kỷ 16, nhưng chủ yếu là bởi thấy dày những danh thắng kèm theo con sông ở đất Tuy Hòa. Rung cảm để viết những câu thơ: “Con sông Ba vẫn mải miết độc hành/ Cầu Đà Rằng chàng đi, nàng đợi/ Hoàng hôn buông, ngọn Chóp Chài thẫm tối/ Chim đã về núi Nhạn, tháp chờ ai”. Tôi từng gặp những hiểm nguy khi đi trên sông. Đó là lần đang đi trên chiếc ca nô Biên phòng ở sông Sài Gòn ngay chính tại cửa biển rộng mênh mông thì bất thần trời nổi gió cả, sóng to. Hay lần bơi sông Chu mùa nước cạn mà suýt chết ngạt vì cái quần dài cởi ra thắt ở cổ xuống nước phồng to lên thít chặt… Trên đây tôi chỉ nêu tên một số con sông hoặc là lớn, hoặc là tiêu biểu ở các vùng miền, hoặc nổi tiếng về phương diện lịch sử - văn hoá, hoặc tôi có kỷ niệm nào đó chứ còn rất nhiều con sông Việt lớn nhỏ khác tôi đã đến hoặc đi qua. Nhớ thương lắm, thương nhất là những con sông nơi quê cha đất tổ. Quê cha tôi nằm gần sông Mã, đoạn chỉ cách mươi cây số nữa là ra đến biển. Hồi nhỏ, tôi không được ở quê nội nên không có được những kỷ niệm đáng kể về dòng sông này. Chỉ nhớ là ngày xưa, mỗi lần về quê, qua cầu Hàm Rồng, tôi hay nhìn xác chiếc máy bay Mỹ bị bắn trúng khi đang lao xuống cắt bom nên đâm cắm thẳng xuống dòng sông và được để đó nhiều năm ròng như chứng tích về một thời đạn bom khốc liệt. Hồi bé, tôi được chứng kiến những trận đánh ở cầu Hàm Rồng từ khoảng cách khoảng 40 cây số, thấy máy bay Mỹ như những con châu chấu nhào xuống, bốc lên, nghe tiếng đạn bom, pháo, tên lửa nổ lục bục và quầng sáng do bom đạn rực lên từ phía đó đêm đêm. Xác chiếc máy bay đó đã được dọn đi từ lâu, chắc để thông dòng. Đôi năm trước, tôi cùng chúng bạn tuổi thơ đi theo tuyến du lịch ngắn trên sông Mã từ chính cầu Hàm Rồng lên đến Ngã ba bông, thấy hai bên bờ sông Mã dày những di tích, thắng cảnh. Ngã Ba Bông là nơi con sông Chu đổ vào sông Mã. Sông Chu, đó mới là con sông của tuổi thơ tôi. Sông Chu nằm giữa cơ quan mẹ tôi và làng quê ngoại nên hồi nhỏ, tôi qua lại rất nhiều lần trên những con đò gỗ mà người chống đò làm cho nó di chuyển bằng cách cắm chiếc sào rất dài xuống lòng sông rồi đi lại trên thành đò để đẩy. Tôi say mê nhìn con sào hút vào lòng sông và nhất là người lái đi lại trên mép đò chênh vênh như làm xiếc. Cảnh đó thật đáng sợ vào mùa nước to, sông cuồn cuộn chảy đục ngầu và đầy những củi rác cùng xoáy nước. Những ngày lạnh, ngày rét mà phải qua đò thì thật tê tái. Nên sau này, mỗi lần đọc bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” đến câu “Gió về lạnh lẽo dâng mây trắng/ Người ấy bên sông đứng gọi đò”, thể nào tôi cũng nhớ về cái bến đò và con sông tuổi thơ ấy. Giờ tại bến cũ đã dựng lên một cây cầu. Đi lại rất tiện lợi, nhưng mỗi lần qua, nhìn xuống dòng sông yêu mến không còn bóng những con đò, tôi vẫn thấy đôi phần trống vắng. Và bật ra câu thơ trong bài “Ta về”: “Vườn ai sót ngọn cải ngồng/ Mắt ai giờ đã như sông vắng đò”. Sông Chu mang nhiều phù sa mùa mưa lũ lên bãi bờ của nó rất màu mỡ. Tôi nhớ những bãi dâu, bãi ngô mơn mởn, xanh biếc hồi đó. Một lần, cuối đông, đạp xe trên đê sông Chu về quê nội, tôi bỗng thấy một làn gió sông thổi lên hương hoa ngô rất đậm, cảm giác như hương đặc quánh lẫn phấn hoa. Sau này, trong một bài thơ nhớ quê hương, tôi viết: “Dải hương sen ngát từ trưa hồ mùa hè/ Và vạt thơm đặc phấn ngô vụ đông”. Sông Chu là một dòng sông lịch sử. Trên bờ của nó có nơi phát của hai vương triều Tiền Lê (Lê Hoàn ở Xuân Lập, huyện Thọ Xuân cũ của Thanh Hoá) và Hậu Lê (Lê Lợi ở Lam Sơn cũng thuộc huyện Thọ Xuân cũ), từng có những kinh đô chính trị - hành chính (Vạn Lại – Yên Trường) và tâm linh thờ cúng (Lam Kinh)… Sông Chu, con sông quê yêu thương ấy khiến tôi một hôm ở Hà Nội, cách xa nó một trăm rưỡi cây số, bỗng ngồi vào bàn mà viết: SÔNG CHU Lúc đục ngầu giận dữ/ Khi trong vắt hiền từ/ Sông mềm như dải lụa/ Uốn qua miền tương tư/ Những vui buồn tuổi thơ/ Theo nguồn sông chảy mãi/ Những con đò qua lại/ Và màu xanh bãi bồi/ Dòng sông mải miết trôi/ Qua những miền cổ tích/ Những Xuân Lập, Lam Kinh/ Những vương triều chuyển dịch/ Sông in trời ngọc bích/ Bên ngô bãi, dâu nương/ Nghìn năm người yêu thương/ Tảo tần bên sông mẹ/ Bước thời gian rất nhẹ/ Sông khi lở khi bồi/ Dẫu vật đổi sao rời/ Vẫn mạch nguồn thương nhớ. q Các dòng sông trên thế giới dù dài, dù rộng, dù giàu có về văn hóa - lịch sử đến đâu cũng không so được trong lòng với những dòng sông quê hương. Sông Chu Thuyền rước nước gần Ngã ba Bạch Hạc hợp lưu của sông Hồng, sông Lô, sông Đà Sông Đồng Nai đoạn qua Di Linh, Lâm Đồng cũ SỨC VƯƠN PHÙ ĐỔNG 59 Xuân

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==