Giá trị là như thế, ý nghĩa là như thế, vậy nên trước thềm Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. XUÂN SANG, TREO TRANH MỚI Mùa xuân đến đầu tiên từ những sắc màu. Chẳng phải vậy ư khi mà sắc xuân bừng khởi trước nhất, rồi mới đến khí xuân, hương xuân rồi vị xuân. Sắc xuân đó có màu xanh của chồi lộc biếc, có màu hường như làn môi thiếu nữ bật hồng trên những cội đào, có ngũ sắc lung linh của những tờ tranh Tết. Tranh Tết gắn bó với Tết Việt từ nghìn xưa. Trên đất nước này, có bao nhiêu thứ tranh Tết làm bừng sáng không gian. Có thứ chỉ đỏ rực một màu cát tường cầu hồng phúc như bùa giấy, bùa vải đỏ thắm của người Mông hay tranh gà (tranh đỏ) làng Kim Hoàng (Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội). Lại có thứ tranh thờ linh thiêng của người Dao vẽ và treo trong dịp Tết như cây cầu nối với tổ tiên. Rồi cả tranh Tết Hàng Trống (Hà Nội) phong lưu, nhã nhặn hay tranh Tết làng Sình (Huế) tưng bừng 5 sắc, đầy đủ ngũ hành chào đón buổi tam dương khai thái. Tuỳ theo văn hoá, tín ngưỡng và phong tục, tranh Tết ở mỗi nơi, của mỗi dân tộc đều thể hiện một ý nghĩa riêng. Thế nhưng, tranh Tết chỉ là tranh Tết, với biểu tượng nguyên thuỷ cho thời gian tống cựu nghinh tân, ươm mầm lạc quan và hy vọng, trước cho con mắt của người thưởng thức, sau cho con mắt của đời hướng đạo, tựu trung vẫn cứ là tranh Tết làng Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Cái tờ tranh Tết mỏng manh, thô sần sợi dó và mảnh điệp, ấy là lá cờ báo tiệp xuân sang. Tờ tranh ấy được vỗ nét từ bản khắc gỗ, rồi trau chuốt từng sắc màu bởi bàn tay của những người dân thôn dã bất kể trẻ già, nam nữ có sức biểu tượng thật mạnh mẽ cho sức xuân bắt đầu vào chu kỳ cương mãnh của “xuân sinh, hạ trưởng”. Bởi cuối năm, người Việt mua vôi để quét bay những gì cũ kỹ, ẩm mốc, hoen ố, tạo một không gian mới mẻ. Những tờ tranh cũ đã phai màu sau vòng quay 365 ngày được bóc đi, rồi thay thế bằng những tờ tranh Tết mới tạo ra một vòng lặp thời gian vô tận. Ước mơ của con người vốn thế, chẳng cao sang tốt vời gì cả, chỉ là một nguyện cầu cho một năm mới no đủ và bình an. Vốn dĩ thế mà, an cư sẽ lạc nghiệp, no ấm tạo cảnh thái bình. Cần gì hơn thế đâu, cứ miên viễn là bức tranh gà xinh, lợn béo, nhi đồng hớn hở bế vịt, ôm ngan là đủ thỏa mộng vinh hoa, phú quý chốn quê nhà. Chỉ cần vài bức tranh làng Hồ sặc sỡ với những gam màu chắt lọc từ đất, cát, đá, nước, lá cây… dán trên tường vôi trắng cũng đủ làm bừng sáng lên một không gian Tết, để rồi vui buồn đồng cam cộng khổ cùng gia chủ suốt một năm, cho đến ngày được thay thế bằng một niềm hy vọng mới mẻ mà muôn năm cũ. Trên tờ tranh đó, những màu sắc nguyên thủy chuyển biến theo ánh sáng. Màu vàng của hoa hòe ấy là sự no đủ, màu vàng tươi như nắng hàm ý mùa vàng bội thu, màu xanh là hình dung của luỹ tre làng, màu đỏ gấc như yếm thắm, màu nhiễu tím như thắt lưng, màu đen như váy lĩnh đi hội làng. Tất cả đều là vật liệu có sẵn trong thiên nhiên mà cuộc đời của chúng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt từ thuở nào. Chúng phát ra ngôn ngữ dung dị của bản năng và tiềm thức và không biết bao lần làm hồn người bồi hồi trong kỷ niệm của ngày Tết. NHÂN SINH QUAN CỦA NHÂN DÂN Hãy thử ngắm nhìn một bức tranh Tết của làng Hồ, ta có thấy một cảm giác bình yên, thân thuộc và nhẹ nhõm khởi sinh không? Chẳng cần phải dùng đến một kỹ thuật tạo hình cao siêu để truyền tải những thông điệp bác học hàn lâm nhưng những tờ tranh Tết đó vẫn tràn đầy sự thâm thúy của dân gian. Chất liệu folklore của làng xã Bắc bộ, của nền văn minh lúa nước cứ thấm đẫm trong từng tạo hình. Lợn, gà, vịt, ngan, mèo, chuột, trâu, ngựa, chim, cá ấy là “lục súc” của hệ sinh thái thôn quê. Lão nông, em bé, trai tráng, gái tơ, hay ông tiến sĩ vinh quy… ấy là những tế bào của làng xã. Tất cả đều quá quen thân. Tên tranh của làng Đông Hồ chỉ đơn thuần là tranh Tết, cho dù là nhìn cảnh mà đặt tên như “Đám cưới chuột”, “Hứng dừa”, “Đánh ghen”, “Chăn trâu thổi sáo”, “Đấu vật”, “Đánh đu” hay theo chủ đề gửi gắm niềm khát khao như “Vinh hoa - Phú quý”, “Lão nông tri điền”, “Tam dương khai thái”. Do đó, thẩm mỹ của tranh Đông Hồ là thẩm mỹ của nghệ thuật dân gian, thiên về vẻ đẹp giản dị, chân thật, có khi phảng phất vẻ ngây thơ, vụng về. Nhưng nó bao hàm nhân sinh quan, thế giới quan của người Việt được hình thành, tiếp nối của một nền văn hóa lâu đời. Sáng tạo nghệ thuật trong tranh Tết Đông Hồ thể hiện tính dí dỏm, khung cảnh ấm cúng của Tết Việt, dùng các sinh vật hay cảnh sinh hoạt thân thuộc để mưu cầu hạnh phúc. Lời con trẻ chúc câu thịnh vượng, đàn lợn nái yên ả xoáy âm dương, vầng mặt trời rực trên lưng gà trống… Dẫu cho xuất phát từ nền tảng văn hoá dân gian thô phác, mộc mạc nhưng tranh Tết Đông Hồ vẫn biểu đạt triết lý phương Đông đầy trang trọng, xứng đáng với không khí thiêng liêng của ngày Tết Nguyên đán như thể đấy là một câu đối cung chúc ngày Tết vậy. Như ở cặp tranh “Đại Cát Nghinh Xuân - Đón Xuân Tốt Lành”, mỗi tờ tranh thể hiện một con gà đối xứng cả về hình thể, thế đứng, lông cánh, lông đuôi, một bên viết 2 chữ Đại Cát và một bên viết 2 chữ Nghinh Xuân bằng chữ Hán. Một lời nguyện cầu tốt lành. Cũng là tranh gà, ở cặp tranh “Dạ Xướng Nhật Minh - Đêm Gáy Ngày Sáng” lại thể hiện một chú gà trống với đầy đủ 5 đức tính tốt của con người là Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín (thông qua hình ảnh mào - cánh - đuôi - lông mã - tiếng gáy), đứng ở tư thế co một chân lên theo thế “kim kê độc lập” rất oai phong. Trên vế này của tranh có viết chữ “Dạ xướng ngũ canh hòa - đêm gáy năm canh đều đặn”. Trong khi đó, vế kia của tranh, vẫn chú gà đó ở tư thế quay trở lại, và viết chữ “Nhật minh tam tác thụy - Ngày mang tới ba điều lành). Quả là một câu đối rất ý nghĩa xuất phát từ hành vi thường nhật của gà trống. Cũng để diễn tả sự sinh trưởng của mùa xuân, tranh Tết Đông Hồ miêu tả khá nhiều yếu tố văn hoá phồn thực, đầy đủ nam nữ. Như ở bức tranh “Hứng dừa”, mô tả cảnh người nam trèo lên cao hái dừa, còn người nữ đứng dưới thấp hứng dừa. Như thế tranh có đủ âm, đủ dương, đủ nõ, đủ nường đầy tinh tế. Hoặc như trong tranh “Thư Hùng - Trống Mái” thể hiện một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con. Trên tranh có dòng chữ Nôm “Lắm con nhiều cháu, mượt cánh dài lông - No vợ đủ chồng, có sừng có mỏ” - một lời chúc sử dụng toàn phương ngôn vừa sâu sắc, vừa dí dỏm. Thế đấy, chỉ loanh quanh con gà, con lợn mà tranh Tết Đông Hồ đã làm cho cái Tết Việt rôm rả, đủ đầy. Xin chúc các bạn đọc báo Tiền Phong một năm mới an khang thịnh vượng bằng cặp tranh Phúc Lộc Song Toàn với hình ảnh 2 em bé tay ôm cá chép, bên cạnh 2 bông hoa sen. Đó là hình tượng của lời chúc: Niên niên hữu dư (chơi chữ từ hình ảnh Liên liên hữu ngư - hoa sen cá chép) - Năm nào cũng dư đủ! q MÀU DÂN TỘC ANMUSTANG Sự cân đối trong tranh Tết Đông Hồ cũng thể hiện tư tưởng âm dương bình hòa thì mới có sự sinh trưởng bền vững. Đã có tranh cậu bé ôm gà trống cùng hai chữ Vinh Hoa thì phải có tranh cô bé ôm vịt mái đề hai chữ Phú Quý. Bé trai ôm con gà, bên cạnh hoa cúc (kêcúc) thể hiện ước nguyện vinh hiển. Bé gái ôm vịt, bên hoa sen (áp - liên) lại tượng trưng sự thanh cao. sáng bừng Tết Việt Tranh Đông Hồ ẢNH: LÊ BÍCH Ngày Tết, dẫu cảnh nhà có mái tranh vách đất cũng cứ phải tưng bừng “tranh pháo” cho nhuận vẻ thắm tươi niềm hy vọng. Chẳng thế mà tranh - pháo song hành như bánh chưng xanh - câu đối đỏ, thịt mỡ - dưa hành. Vậy nên, hồn Tết Việt cứ thế lên màu cùng tranh “gà lợn nét tươi xinh”. SỨC VƯƠN PHÙ ĐỔNG 52 Xuân
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==