SỨC VƯƠN PHÙ ĐỔNG 46 Xuân những nụ cười Với anh, đó không chỉ là nghề, mà là con đường bắt đầu từ một “cú chạm” rất sớm: những tháng ngày nằm điều trị ở bệnh viện huyện quê nhà Phù Mỹ, Bệnh viện tỉnh (Bình Định), nơi hình ảnh người thầy thuốc lặng lẽ gieo vào cậu bé thường xuyên đau ốm khát vọng theo nghề y để có thể giống như những chiến sĩ áo trắng thầm lặng ấy cống hiến cho đời. Tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội loại giỏi, sau 4 năm tiếp tục học tập và rèn luyện để trở thành bác sĩ nội trú rồi giảng viên, Như Ngọc sớm đi theo con đường học thuật và thực hành bài bản với nhiều thầy cô giáo ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài. Luận án tiến sĩ về đặc điểm kết cấu sọ – mặt và đánh giá khuôn mặt hài hòa ở người Việt được đánh giá xuất sắc không chỉ bởi tính học thuật, mà bởi cách tiếp cận gốc rễ: muốn điều trị và làm đẹp đúng, phải hiểu cấu trúc sinh học của chính con người Việt Nam, thay vì sao chép các chuẩn ngoại nhập có thể không phù hợp với văn hóa người Việt. Theo anh, y học không thể “đi tắt”, nhất là trong một lĩnh vực can thiệp trực tiếp vào cơ thể và diện mạo con người. Trong sự nghiệp của mình, GS.TS Như Ngọc nhớ nhất một ca bệnh đặc biệt – một cậu bé mắc chứng tự kỷ, gần như không thể hợp tác với bác sĩ để điều trị. Gia đình đã tuyệt vọng đến mức mua vé máy bay sang Singapore với hy vọng mong manh tìm được nơi điều trị với phương pháp chữa răng dưới gây mê toàn thân. Trước chuyến đi ấy, cơ duyên họ gặp Như Ngọc. Không vội can thiệp, anh dành thời gian trò chuyện, tư vấn, lắng nghe cả đứa trẻ lẫn gia đình. Bằng sự kiên nhẫn và hiểu biết tâm lý trẻ, gia đình đã thay đổi kế hoạch, đồng ý ở lại Việt Nam để điều trị, và anh đã quyết định điều trị cho cậu bé, áp dụng phương pháp gây mê toàn thân – kỹ thuật anh từng được đào tạo tại Pháp và mang về Việt Nam. Ca điều trị thành công: cậu bé được xử lý răng sâu, nhổ bỏ đi chiếc răng ngầm khổng lồ mà các đồng nghiệp đang nghi ngờ đó là một khối u. Điều quan trọng đó là sau lần can thiệp này, bé đã vượt qua nỗi sợ hãi, có thể hợp tác được với bác sĩ. Nhiều năm sau, khi cậu bé ấy trưởng thành và lập gia đình, ngày đám cưới hai vị khách mà gia đình bảo không thể nào thiếu được để chứng kiến hạnh phúc của chàng trai đó và gia đình: một bác sĩ tâm lý và bác sĩ Võ Trương Như Ngọc. Với anh, đó không chỉ là niềm vui nghề nghiệp, mà là lời nhắc nhở sâu sắc rằng y học, suy cho cùng, là hành trình đồng hành cùng đời sống con người, chứ không phải những ca kỹ thuật vô cảm. Triết lý hành nghề của GS.TS Như Ngọc được hình thành rất rõ từ những trải nghiệm như thế. Anh nói trong mình có “ba con người”. Thứ nhất là con người của bác sĩ, trước hết phải là bác sĩ giỏi. Thứ hai, anh phải là một kỹ sư - bác sĩ nha khoa phải giỏi lâm sàng, cầm được “khoan, kìm, bẩy”, anh bẻ dây cung này, anh làm cái móc kia, trực tiếp phẫu thuật, xử lý ca bệnh bằng đôi tay và kiến thức vững chắc. Thứ ba, anh phải là con người nghệ sĩ - là nghệ sĩ để dễ thấu cảm với người bệnh và gia đình người bệnh, là nghệ sĩ để làm đẹp cho người bệnh từ cái răng, khuôn mặt, nhưng cái đẹp ấy phải hài hòa, vừa đủ, không xâm lấn quá mức mà theo triết lý xâm lấn tối thiểu, làm cho đẹp hơn nhưng đó là một cái đẹp tự nhiên, người khác có thể không nhận ra được đã từng dùng công nghệ làm đẹp. Chính vì vậy, GS.TS Như Ngọc luôn nhấn mạnh ranh giới giữa y học chuẩn mực và thương mại hóa. Trong bối cảnh nha khoa thẩm mỹ bùng nổ, không ít nơi chạy theo lợi nhuận, khuyến khích can thiệp quá mức, anh chọn con đường khó hơn: “Cái gì không cần can thiệp thì cố gắng không can thiệp”. Anh sẵn sàng tư vấn bệnh nhân tẩy trắng răng thay vì bọc sứ, dù lợi nhuận từ răng sứ cao hơn rất nhiều. Theo anh, can thiệp ít nhất có thể nhưng đạt hiệu quả tối ưu mới là chuẩn mực của y khoa. Là người đam mê và sớm ứng dụng công nghệ cao trong nha khoa - từ chữa răng với laser, sóng siêu âm, chữa răng với kính hiển vi đến các kỹ thuật điều trị ít sang chấn - Như Ngọc không thần thánh hóa máy móc. Với anh, công nghệ chỉ là công cụ. Điều quan trọng hơn là chỉ định đúng, hiểu đúng sinh học và đặt lợi ích lâu dài của người bệnh lên trước. Mỗi một kỹ thuật công nghệ mới trước khi sử dụng anh đều tìm hiểu kỹ đã đủ các bằng chứng khoa học hay chưa. Anh đặc biệt quan tâm đến trí tuệ nhân tạo trong dự phòng bệnh răng miệng, nhất là với trẻ em ở vùng sâu, vùng xa. AI, theo anh, có thể hỗ trợ phát hiện sớm, hướng dẫn chăm sóc, nhưng không thể thay thế trách nhiệm và đạo đức của người thầy thuốc. Ở vai trò Phó Viện trưởng Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội, điều khiến GS.TS Như Ngọc trăn trở nhất là đào tạo bác sĩ trẻ trong áp lực thị trường ngày càng lớn. Anh cho rằng nếu không được trang bị nền tảng khoa học và hệ giá trị nghề nghiệp vững vàng, người thầy thuốc rất dễ bị cuốn vào vòng xoáy quảng cáo, giá rẻ, doanh thu, để rồi đánh mất ranh giới cần có, dễ chạm và rơi vào can thiệp quá mức. Song song với nghiên cứu và đào tạo, anh dành nhiều năm cho các chuyến khám chữa bệnh tình nguyện, mang phòng khám di động đến nhiều vùng miền xa xôi từ Hà Giang (cũ), Sơn La đến Cà Mau, Bạch Long Vĩ, Lào, Campuchia… Với anh, tư vấn và giáo dục dự phòng sức khỏe cho người dân đôi khi còn quan trọng hơn cả một can thiệp kỹ thuật. Khi được hỏi nếu không làm bác sĩ, anh sẽ làm gì, Như Ngọc chỉ cười. Nhưng qua cách anh nói về nghề, có thể thấy rõ: dù ở vai trò nào, anh vẫn sẽ chọn con đường đi chậm, chắc, chân thành và tử tế. q THỊNH AN GS.TS, Bác sĩ nội trú Võ Trương Như Ngọc, Phó Viện trưởng Viện đào tạo Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y - Hà Nội được vinh danh là gương mặt trẻ Thủ đô tiêu biểu năm 2012. Nhưng điều làm nên chiều sâu của danh hiệu không chỉ nằm ở phòng thí nghiệm hay giảng đường. Suốt hơn 20 năm qua, anh rong ruổi cùng phòng khám di động đến khắp mọi miền Tổ quốc - từ Hà Giang (cũ), Sơn La đến Bạch Long Vĩ, Cà Mau - khám, chữa bệnh cho người nghèo, gia đình chính sách. GS. TS, Bác sĩ nội trú Võ Trương Như Ngọc đã chủ biên và tham gia xuất bản hơn 20 cuốn sách (sách giáo trình, chuyên khảo, tham khảo), xuất bản hơn 220 bài báo, trong đó có hơn 70 bài đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín. Đã hướng dẫn hơn 40 thạc sĩ, bác sĩ nội trú và chuyên khoa 2. Đặc biệt, ông đã và đang hướng dẫn 18 nghiên cứu sinh, trong đó có 8 nghiên cứu sinh đã bảo vệ, hiện đang là lãnh đạo chủ chốt ở các bệnh viện tuyến trung ương, tỉnh và các cơ sở giáo dục. GS.TS, Bác sĩ nội trú Võ Trương Như Ngọc, Phó Viện trưởng Viện đào tạo Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y - Hà Nội NGƯỜI LÀM RẠNG RỠ Không phải ngẫu nhiên mà Giáo sư, Tiến sĩ Võ Trương Như Ngọc chọn Răng Hàm Mặt - một chuyên ngành đứng ở giao điểm mong manh giữa điều trị y khoa và nhu cầu thẩm mỹ ngày càng lớn của xã hội. Giáo sư Võ Trương Như Ngọc đang chơi và làm quen với các em nhỏ trước khi chữa răng cho các em ẢNH: HỒNG VĨNH
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==