Báo Tiền Phong xuân Bính Ngọ 2026

SỨC VƯƠN PHÙ ĐỔNG 28 Xuân HAI TRỤ CỘT CỦA CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Hương Giang, nếu buộc phải chỉ ra những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá rõ nét nhất cho công nghiệp văn hóa Việt Nam trong hai thập kỷ tới, thì công nghệ tổ chức concert show và phim điện ảnh chiếu rạp là hai “mũi nhọn” cần được ưu tiên. “Muốn hiện thực hóa sức mạnh mềm của công nghiệp văn hóa, chúng ta buộc phải bắt đầu từ những câu hỏi rất căn bản: Chúng ta có gì, và chúng ta sẽ làm gì để có công nghiệp văn hóa? Khi chưa trả lời được hai câu hỏi này, mọi mục tiêu lớn đều dễ rơi vào khẩu hiệu”, ông Giang nhấn mạnh. Concert show không chỉ là hoạt động biểu diễn đơn thuần mà là tổng hòa của công nghệ, hạ tầng, tổ chức sản xuất và năng lực vận hành thị trường. Muốn có những concert triệu đô, không thể chỉ trông chờ vào nghệ sĩ, mà phải có sân khấu quy mô hàng chục, hàng trăm nghìn khán giả, cùng hệ thống công nghệ tương xứng. Tương tự, với điện ảnh, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở tên tuổi diễn viên mà ở kịch bản hay và quy mô thể hiện. Muốn có phim điện ảnh doanh thu chục triệu đô thì cần những kịch bản triệu đô. Khi đầu tư xứng với tầm vóc, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra các sản phẩm chất lượng cao đứng cạnh những "bom tấn" của thế giới. Thực tế thời gian qua cho thấy, hàng loạt show diễn quy mô lớn như Anh trai vượt ngàn chông gai, Anh trai Say Hi, V-Concert hay các sản phẩm âm nhạc cá nhân đậm dấu ấn như Bắc Bling, Mục hạ vô nhân đã mở ra khả năng tiếp cận thị trường ngoài lãnh thổ Việt Nam. Theo chuyên gia, những thành công này không chỉ mang lại doanh thu cho nhà sản xuất, mà còn góp phần khẳng định sức mạnh mềm công nghệ giải trí của Việt Nam. “Thế giới đã biết đến văn hóa Việt Nam nhiều hơn, đồng thời ghi nhận năng lực tổ chức, công nghệ giải trí và sức sáng tạo của chúng ta. Công nghiệp biểu diễn, nếu được đầu tư bài bản, có thể trở thành một ngành kinh tế thực thụ chứ không chỉ là hiện tượng ngắn hạn”, ông nói. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rằng nếu chỉ dừng lại ở những “điểm sáng” riêng lẻ, công nghiệp biểu diễn sẽ khó phát triển bền vững. Để trở thành một ngành kinh tế thực sự, cần ba điều kiện: đầu tư bài bản vào sản phẩm mũi nhọn; chiến lược phát triển dài hạn với tiêu chí đầu ra khắt khe; và đặc biệt là cơ chế hỗ trợ của Nhà nước để giảm rủi ro pháp lý, tháo gỡ rào cản hành chính, thậm chí là đồng hành về tài chính với những dự án quy mô lớn. THƯỚC ĐO BẰNG GDP, VIỆC LÀM VÀ XUẤT KHẨU TS Nguyễn Xuân Trường - Trưởng bộ môn Thương mại quốc tế, Đại học Ngân hàng TPHCM - cho rằng, trong tầm nhìn 2030-2045, các lĩnh vực như âm nhạc số, công nghiệp biểu diễn, trò chơi điện tử, thiết kế - thời trang hoàn toàn có thể đứng ngang hàng với các ngành kinh tế truyền thống nếu xét theo tiêu chí đóng góp GDP, tạo việc làm và giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là phải tập trung nguồn lực theo từng giai đoạn, tạo hiệu ứng lan tỏa thay vì đầu tư dàn hàng ngang. Phân tích hiệu ứng lan tỏa của các live show và festival âm nhạc, TS Nguyễn Xuân Trường chỉ ra hai tầng giá trị: trực tiếp là doanh thu từ vé, lưu trú, dịch vụ; gián tiếp là quảng bá thương hiệu địa phương và thu hút đầu tư. Muốn ngành biểu diễn đạt quy mô tỷ USD, các sự kiện phải được gắn với du lịch văn hóa, tổ chức theo chuỗi thường niên và liên kết với nền tảng số như streaming, quảng cáo, thương mại điện tử. Theo TS Nguyễn Xuân Trường, với ngành âm nhạc và biểu diễn, Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt trong giai đoạn 2026-2035 để hình thành hệ sinh thái, sau đó chuyển dần sang vai trò hỗ trợ khi thị trường đủ năng lực cạnh tranh quốc tế. Hệ sinh thái này phải tạo ra chuỗi giá trị khép kín từ sáng tạo đến xuất khẩu, với dữ liệu và công nghệ số làm nền tảng tối ưu chi phí. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, công nghiệp văn hóa phát triển theo tư duy hệ sinh thái luôn kéo theo sự bùng nổ của du lịch và thương mại. Các chuyên gia dẫn chứng mô hình “3 win” tại Hàn Quốc, Nhật Bản hay Mỹ, nơi sản phẩm văn hóa không chỉ mang lại lợi ích cho nhà sản xuất và khán giả, mà còn cho các ngành nghề xã hội khác. Bộ phim “Bản tình ca mùa đông” từng biến những địa điểm ghi hình thành điểm đến du lịch hàng đầu Hàn Quốc. Tại Việt Nam, các phim điện ảnh như “Mắt biếc”, “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, “Mưa đỏ”… cũng cho thấy tác động rõ rệt đến phát triển du lịch địa phương. Đây là kết quả tất yếu khi công nghiệp văn hóa được đặt trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh. TS. Nguyễn Xuân Trường bổ sung, từ kinh nghiệm của Thái Lan và Singapore, Việt Nam cần xây dựng chuỗi liên kết: tác phẩm ăn khách - sự kiện quy mô lớn - gói trải nghiệm du lịch, thương mại - chiến dịch truyền thông quốc tế. Khi đó, âm nhạc và điện ảnh mới thực sự trở thành ngành kinh tế lan tỏa, thay vì chỉ dừng ở hiệu ứng ngắn hạn. Để công nghiệp văn hóa đứng ngang hàng với kinh tế - xã hội, bài toán nhân lực cần được nhìn nhận toàn diện hơn, đặc biệt là các vị trí hậu trường như biên kịch, kỹ xảo, sản xuất, phát hành, kiểm duyệt, công nghệ. TS Nguyễn Xuân Trường nhấn mạnh, muốn công nghiệp văn hóa đạt quy mô tỷ USD, Việt Nam phải đầu tư có hệ thống vào đào tạo, chuẩn hóa nghề nghiệp theo chuẩn khu vực và quốc tế, đồng thời thu hút nhân lực chất lượng cao từ ASEAN. “Chỉ khi hình thành được chuỗi nhân lực chuyên nghiệp, công nghiệp văn hóa Việt Nam mới có thể cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường khu vực và thế giới”, ông kết luận. Từ các phân tích trên, có thể thấy, để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành trụ cột phát triển trong giai đoạn 20302045, Việt Nam cần một chiến lược nhất quán: chọn đúng mũi nhọn, đầu tư có chiều sâu, xây dựng hệ sinh thái hoàn chỉnh và đặt con người - cả trên sân khấu lẫn hậu trường - vào trung tâm. Khi đó, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, mà còn góp phần định hình hình ảnh quốc gia, nâng tầm sức mạnh mềm Việt Nam trong một thế giới cạnh tranh ngày càng gay gắt bằng sáng tạo và bản sắc. q Đoàn làm phim “Mưa đỏ” tại lễ bế mạc Tuần lễ “Điện ảnh Việt Nam - Hành trình ánh sáng” ở Paris Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu dịch chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang trở thành một trụ cột phát triển mới. Với Việt Nam, giai đoạn 2030-2045 được xem là thời điểm bản lề để đưa công nghiệp văn hóa đứng ngang hàng với các ngành kinh tế - xã hội truyền thống. Khi “sức mạnh mềm” TRẦN HUYỀN - ĐỖ QUYÊN Phát triển công nghiệp văn hóa đòi hỏi hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, gồm nhà sản xuất - nghệ sĩ - công chúng - cùng hệ thống hạ tầng, thiết chế của Nhà nước. Nghệ sĩ giữ vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa ý tưởng sáng tạo, còn công chúng vừa là thị trường tiêu thụ, vừa là lực đẩy kích thích hệ sinh thái tăng trưởng. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng “con tàu văn hóa” đi đúng quỹ đạo, thay vì can thiệp trực tiếp vào quá trình vận hành. Trọng trách điều phối hệ sinh thái nên đặt vào tay nhà sản xuất - lực lượng trung tâm không chỉ tạo ra sản phẩm văn hóa mà còn kết nối thị trường khu vực và quốc tế. ĐƯỢC ĐẶT NGANG HÀNG KINH TẾ - XÃ HỘI “Muốn có concert triệu đô thì phải có sân khấu quy mô trăm nghìn khán giả. Muốn có phim điện ảnh doanh thu chục triệu đô thì cần những kịch bản triệu đô”. Ông NGÔ HƯƠNG GIANG

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==