Viết đều, viết kỹ và gần như tách mình khỏi những xao động bên ngoài, nhà văn Hồ Anh Thái qua nhiều năm vẫn duy trì một thói quen sáng tác hiếm gặp. Cuốn tiểu thuyết mới của ông chính là điểm tiếp theo trong vô số bất ngờ mà ông đã gieo vào dòng chảy văn học đương đại. SẼ LÀ 1 TRONG 10 CUỐN SÁCH CỦA NĂM Đây là nhận xét của TS. Nguyễn Thị Thủy Sam sau khi đọc Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân (Cty Nhã Nam và NXB Hà Nội) của Hồ Anh Thái. Chị cho rằng, cuốn tiểu thuyết tạo được sức hút nhờ cấu trúc mở, cho phép người đọc tham gia vào quá trình diễn giải. Giọng điệu linh hoạt, vừa giễu nhại, vừa suy tư và lối kể đặc biệt hấp dẫn. Theo TS. Thủy Sam, đây là cuốn tiểu thuyết “được khuyên dùng”, cả với bạn đọc phổ thông và giới nghiên cứu. Buổi ra mắt tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân quy tụ nhiều gương mặt quen thuộc của văn đàn như nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, nhà văn Lê Minh Khuê, nhà văn, họa sĩ Trần Thị Trường, nhà văn Phạm Ngọc Tiến và PGS.TS Phạm Xuân Thạch. Nhân vật chính của sự kiện, nhà văn Hồ Anh Thái, như mọi khi, lại vắng mặt. Đây không phải là chuyện lạ trong văn giới, người ta đều biết, có ba ông rất khó để có thể “tóm” được họ trong các sự kiện liên quan đến chính mình, lần lượt là: Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Việt Hà. Điểm được nhiều diễn giả đồng thuận chính là cấu trúc của tiểu thuyết. Nhân vật chính vô tình nhặt được một bản thảo tại sân bay, từ đó bước vào một câu chuyện khác, rồi dần nhận ra mối quan hệ giữa mình và văn bản đang đọc. Cách tổ chức này không mới trong văn học thế giới, nhưng theo các ý kiến tại tọa đàm, cách Hồ Anh Thái triển khai tạo ra nhiều lớp nghĩa, đặc biệt ở cách hai mạch truyện chất vấn lẫn nhau. PGS.TS Phạm Xuân Thạch chia sẻ, gần đây sau khi đọc Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu của Hồ Anh Thái ông “đã mê rồi, thấy cuốn này ra là mua ngay, vì nó báo hiệu có gì đáng kể”. Ông Thạch nhấn mạnh, việc các chi tiết đắt giá được chọn lọc tinh vi và tiểu thuyết giữ được sự hài hước nhưng vẫn có sự xúc động. “Các bạn sẽ đọc một cuốn sách không có tên nhân vật, các bạn sẽ đọc một cuốn sách mà nhiều nhân vật sẽ biến mất. Nó là một ẩn dụ kinh khủng về lịch sử, lịch sử rất ngốn con người. Con người sống sót phải trả giá nhiều thứ, mất đi nhiều thứ. Các bạn sẽ nhìn thấy lịch sử Việt Nam thay đổi, lịch sử thế giới thay đổi, thấy hố thẳm chia rẽ người này với người kia. Và tất cả những điều ấy được nhìn không phải dưới con mắt phê phán mà với một nỗi buồn mênh mông”, TS. Phạm Xuân Thạch nhận xét. Một trong những điểm đáng chú ý mà nhiều người nhắc đến trong tiểu thuyết mới của Hồ Anh Thái là lựa chọn không đặt tên nhân vật. Họ được gọi theo một đặc điểm ngoại hình, nghề nghiệp nào đó như: bé, cô nữ trầm, cô chân chó, Tây lông, anh cần vụ, ông Thượng tá, giáo sư… Đây không phải là một thủ pháp hình thức đơn thuần, mà liên quan trực tiếp đến cách nhìn lịch sử. Các nhân vật, đặc biệt là ba thế hệ phụ nữ, được đặt trong dòng chảy biến động, các cá nhân nhiều khi bị cuốn đi, đánh mất danh tính. Những khoảng trống này khiến người đọc buộc phải tự lấp đầy bằng kinh nghiệm và kiến giải của mình. Nhà văn Trần Thị Trường nhìn cuốn sách như một “bản tổng phổ”, trong đó các yếu tố văn chương, âm nhạc, giễu nhại được phối hợp chặt chẽ. Bà đánh giá cao khả năng tạo giọng điệu hóm hỉnh, linh hoạt, nhưng không làm mất đi chiều sâu. Ở một chiều kích khác, liên quan đến nhiều chi tiết trong tiểu thuyết, nhà văn Lê Minh Khuê chú ý đến cách tiết chế của tác giả. Theo bà, nhiều chi tiết có thể được đẩy lên cao trào, nhưng Hồ Anh Thái lựa chọn giữ nhịp kể bình tĩnh, đôi khi gần với giọng kể thản nhiên. Cách viết này tạo ra một khoảng cách cần thiết, giúp những biến cố lớn được nhìn từ nhiều phía thay vì bị cảm xúc lấn át. MỘT VÍ DỤ VỀ LAO ĐỘNG VĂN CHƯƠNG ĐÍCH THỰC Bên cạnh cuốn sách, phần lớn thời lượng buổi ra mắt được dành để nói về nhà văn vắng mặt. Là một trong những người bạn lâu năm của tác giả Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân, nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ kể thời điểm nhà văn Hồ Anh Thái còn làm Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, nhiều khi có một sự việc xảy ra đột xuất nhưng không thể nào gọi điện, nhắn tin được cho ông. Về sau giải thích cho sự im lặng này, ông bảo: có nghe ngay lúc ấy cũng chưa giải quyết được, mà sự việc 3 ngày nữa mới xảy ra, chậm một hai tiếng cũng không sao. Hóa ra, thời gian “một hai tiếng” đó chính là trùng vào thời gian sáng tác của nhà văn. “Anh ấy có một thói quen bất di bất dịch, đó là vào cái giờ sáng tác thì nhốt mình trong phòng kín, không tivi, không điện thoại, không internet, chuyên tâm vào chữ nghĩa. Cho đến khi về hưu, nếu không đi đâu, thì cứ 7h30 sáng là anh đóng bộ như đi làm, ngồi vào bàn làm việc, không đọc thì viết, hết cái giờ quy định mới xả vai”, bà Huệ kể. Theo nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, trong quá trình viết, Hồ Anh Thái luôn coi trọng “tính hấp dẫn” của câu chuyện. Với ông, không hấp dẫn, làm sao giữ được người đọc. PGS.TS Phạm Xuân Thạch nhìn sự nghiệp của Hồ Anh Thái dưới góc độ dài hạn. Ông nhắc đến việc nhà văn có một sự nghiệp sáng tác liên tục, chưa từng đứt đoạn. Số lượng tác phẩm, theo ông, không phải là yếu tố phụ, mà gắn trực tiếp với khả năng duy trì năng lượng sáng tạo. “Sách không phải là sản phẩm của cảm xúc mà là sản phẩm của lao động. Công việc của nhà văn là lao động không ngừng để tạo ra dòng chảy cho sự sáng tạo”, ông Thạch nói. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch cho rằng, trong một bối cảnh rộng hơn của văn học Việt Nam, không nhiều nhà văn giữ được nhịp sáng tác ổn định qua nhiều giai đoạn. Hồ Anh Thái đã bắt đầu từ những tác phẩm mang màu sắc lãng mạn, chuyển sang các suy tư văn hóa, đặc biệt là văn hóa Ấn Độ, trước khi bước vào những thử nghiệm mang tính hậu hiện đại. Sự kết hợp giữa kỷ luật, trải nghiệm và khả năng thay đổi bút pháp mới tạo nên một quỹ đạo sáng tác không dễ lặp lại. Nhiều ý kiến khác nhau tại buổi ra mắt sách không cố gắng đưa ra một kết luận chung. Các nhận xét đặt cạnh nhau, đôi khi bổ sung, đôi khi khác biệt, tạo nên một bức tranh nhiều lớp, tương tự như cấu trúc của cuốn tiểu thuyết. Văn chương, trong trường hợp này, không được nhìn như một sản phẩm hoàn tất, mà như một quá trình tác giả, văn bản và người đọc cùng tham gia vào việc tạo nghĩa. n www.tienphong.vn VĂN HÓA 8 4-5/4/2026 TIỂU THUYẾT MỚI CỦA NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI, MỞ RA TỪ MỘT BẢN THẢO BỊ BỎ QUÊN, ĐƯỢC GIỚI PHÊ BÌNH DỰ ĐOÁN LÀ CUỐN SÁCH VĂN HỌC ĐẦU TIÊN NẰM TRONG DANH SÁCH “PHẢI ĐỌC” CỦA NĂM NAY. Các diễn giả đánh giá cao lao động văn chương và bút lực sung mãn của tác giả Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân Bìa cuốn sách Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân Một bạn đọc trẻ tuổi chia sẻ, nhờ đọc sách của Hồ Anh Thái mà có cảm hứng hoàn thiện nhiều tác phẩm thơ của mình NẰM TRONG DANH SÁCH “PHẢI ĐỌC”? BẢN THẢO BỊ BỎ QUÊN CỦA NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI: HẠNH ĐỖ Nhà văn Hồ Anh Thái từng giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội hai nhiệm kỳ (2000-2010). Ông là nhà ngoại giao chuyên nghiệp, từng đi nhiều nơi và làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam tại một số nước. Ngoài ra, ông cũng là nhà nghiên cứu văn hóa phương Đông, thỉnh giảng ở Đại học Washington và một số đại học nước ngoài. Hồ Anh Thái đã xuất bản hơn 50 cuốn sách thuộc nhiều thể loại. Sách đã được dịch ra hơn mười thứ tiếng và ấn hành ở nhiều nước. Những tác phẩm tiêu biểu của Hồ Anh Thái: Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987), Trong sương hồng hiện ra (1990), Cõi người rung chuông tận thế (2002), Đức Phật, nàng Sivitri và tôi (2007), Năm lá quốc thư (2019), Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu (2023), Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân (2026).
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==