MÓN ĂN NỔI TIẾNG, NHƯNG GIÁ TRỊ KINH TẾ CHƯA TƯƠNG XỨNG Buổi sáng tại phố Thanh Đàm (Thanh Trì), quán nhỏ của gia đình bà Hoàng Thị Lan bắt đầu đông khách từ rất sớm. Gắn bó với nghề hơn 60 năm, qua bốn thế hệ, gia đình vẫn duy trì cách tráng bánh thủ công ngay tại chỗ. “Chúng tôi tráng từng chiếc một, còn máy thì chỉ cần chạy là ra hàng loạt… Tuy nhiên, chính sự thủ công tỉ mỉ ấy lại làm nên hương vị đặc trưng không thể thay thế”, bà Lan tự tin. Trung bình mỗi ngày, bà phải chuẩn bị hàng chục cân nguyên liệu, phục vụ khoảng 100 suất tại quán, chưa kể lượng mang đi. Dù lượng khách ổn định, nhưng vòng đời của món ăn vừa được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia dường như chỉ dừng lại ở đó, trong một khu phố, một nhóm khách quen, một quy mô gia đình, gần như rất ít liên kết với tour tuyến hay hệ thống dịch vụ du lịch để tạo ra những giá trị kinh tế cao hơn. Ẩm thực Việt Nam từ lâu đã được nhìn nhận như một lợi thế cạnh tranh của du lịch. Những cái tên như phở, bánh mì, bún chả… liên tục xuất hiện trên các bảng xếp hạng quốc tế, được truyền thông nước ngoài ca ngợi. Các nghiên cứu cũng chỉ ra, ẩm thực trở thành một động lực quan trọng trong quyết định du lịch. Có tới 81% du khách quốc tế quan tâm đến việc khám phá món ăn địa phương và sẵn sàng chi tiêu đáng kể cho trải nghiệm này. Ở nhiều quốc gia, ẩm thực đã được tổ chức như một sản phẩm du lịch có cấu trúc rõ ràng. Tại Nhật Bản, việc thưởng thức sushi được thiết kế thành chuỗi trải nghiệm gồm tham quan chợ cá Toyosu, lớp học chế biến và kết thúc ở hệ thống nhà hàng cao cấp. Ở Hàn Quốc, kim chi được quảng bá như biểu tượng quốc gia, xuất hiện trong bảo tàng, lễ hội và các chương trình trải nghiệm dành cho du khách, đồng thời trở thành sản phẩm xuất khẩu quy mô lớn. Điều này có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với việc tiêu thụ đơn lẻ. Ngoài sự kết nối, theo chuyên gia phát triển điểm đến Trịnh Đình Minh, một trong những yếu tố quan trọng giúp ẩm thực trở thành sản phẩm du lịch nằm ở câu chuyện phía sau món ăn. Theo ông Minh, giá trị của ẩm thực không chỉ nằm ở hương vị, mà còn ở lịch sử, văn hóa và những câu chuyện gắn với nó. “Bánh cuốn Thanh Trì không chỉ là món ăn. Nó gắn với ký ức phố phường, với hình ảnh những gánh hàng rong, thậm chí từng được dùng để che giấu tài liệu trong giai đoạn lịch sử đặc biệt. Những chi tiết như vậy nếu được 8 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Năm n Ngày 26/3/2026 Ẩm thực Việt Nam được nhiều bảng xếp hạng quốc tế ghi nhận, nhưng phần lớn vẫn tồn tại ở quy mô nhỏ, phân tán. Nhiều món ăn quen thuộc chưa tham gia vào chuỗi giá trị du lịch một cách rõ ràng. Điều này khiến ẩm thực chưa phát huy hết vai trò trong phát triển kinh tế du lịch. CÁI “TÌNH” Ở LẠI SAU MỖI CHUYẾN ĐI “Khánh Hòa là xứ trầm hương/ Non cao biển rộng người thương đi về” - câu thơ của thi sĩ Quách Tấn trong biên khảo Xứ trầm hương như một lời giới thiệu giản dị mà đầy đủ về vùng đất này. Không chỉ có thiên nhiên ưu đãi, Khánh Hòa còn nổi bật bởi con người sống nặng nghĩa tình. Buổi sáng ở Nha Trang bắt đầu từ rất sớm. Trên đường Trần Phú, bóng đêm lặng lẽ rút lui, để lại lớp sương mỏng như dải lụa mềm vắt ngang từ mặt biển đến tận chân trời. Khi ánh mặt trời vừa ló rạng, những chiếc thuyền thúng đã cập bờ, còn người dân thì quây quần kéo lưới và chia cá. Không khí rộn ràng nhưng không xô bồ. Ở đó, người ta dễ dàng bắt gặp những nụ cười, câu chuyện giản dị giữa những con người quen thuộc và cả những người lạ vừa ghé qua. Ông Nguyễn Văn Tám (62 tuổi, ngư dân phường Nam Nha Trang) vừa gỡ lưới vừa nói: “Làm nghề biển cực nhưng quen rồi. Sóng gió nhiều nên người ta sống với nhau bằng cái tình và không ai bỏ ai”. Câu nói của ông Tám mộc mạc nhưng thể hiện rõ nét tính cách đã ăn sâu vào đời sống con người nơi đây. Ở một góc nhìn khác, theo nhiều nghiên cứu, cụm từ “hiền hòa” không chỉ là một phẩm chất cá nhân, mà còn là đặc trưng văn hóa của người Khánh Hòa, góp phần tạo nên sự gắn kết cộng đồng và môi trường sống thân thiện. Chính sự hiền hòa ấy khiến vùng đất này trở nên khác biệt.“Khánh là vui vẻ, còn hoà là hoà hiếu, bình an nhưng không có nghĩa là không phấn đấu. Trong lịch sử 370 năm xây dựng và phát triển, Khánh Hoà này đã có những đóng góp rất sớm, rất tiêu biểu, thăng trầm theo vận nước. Nhìn chung, tất cả những phong trào của dân tộc, từ đấu tranh giữ nước, đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ đất nước… người Khánh Hòa đều tham gia và tham gia ngay từ đầu, rất tiên phong”, PGS.TS Chu Đình Lộc - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Khánh Hòa, cắt nghĩa đầy đủ về "hiền hoà". Có những vùng đất khiến người ta nhớ bởi cảnh đẹp, nhưng cũng có nơi khiến người ta thương bởi con người và Khánh Hòa là một nơi như thế. Đi qua biển xanh, cát trắng, qua những xóm chài và khu chợ nhỏ, điều đọng lại không chỉ là nắng gió, mà là những con người hiền hòa, chân chất và bền bỉ như chính vùng đất họ gắn bó. KHÁNH HÒA - TỪ TIỀM NĂNG ĐẾN KHÁT VỌNG VƯƠN XA Bài 3: Nơi con người “hiền hòa, bền bỉ” Di sản ẩm thực tìm cách nhập cuộc Nghệ nhân A Đôm bên tác phẩm gốm vừa nặn Ngư dân Khánh Hòa phấn khởi sau chuyến đi biển Điều khiến du khách muốn quay lại một điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố văn hóa bản địa, trong đó có dịch vụ ẩm thực
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==