tháp có nhiều hoa văn chạm khắc tinh tế. Các phù điêu thể hiện hình ảnh thần linh, vũ nữ và những họa tiết mang phong cách nghệ thuật Champa. Bên trong tháp chính đặt tượng vua Po Klong Garai bằng đá. Đây là nơi người Chăm thường đến dâng lễ và cầu nguyện. Không chỉ là di tích lịch sử, quần thể tháp còn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm địa phương. Hằng năm, nơi đây diễn ra nhiều lễ hội truyền thống, nổi bật nhất là Lễ hội Katê. Trong những ngày lễ hội, người Chăm từ nhiều nơi tụ họp về tháp để thực hiện nghi thức cúng tế, múa hát và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. “Đứng trước quần thể tháp, tôi cảm nhận rõ dấu ấn của nền văn hóa Champa. Những ngọn tháp gạch đỏ nổi bật giữa bầu trời xanh tạo nên khung cảnh rất đẹp và trang nghiêm”, anh Minh Tuấn du khách đến từ TP.HCM cho hay. LÀNG GỐM CỔ NHẤT ĐÔNG NAM Á Bên cạnh các công trình kiến trúc, nhiều làng nghề truyền thống của người Chăm vẫn được gìn giữ. Trong đó, Làng gốm Bàu Trúc được xem là một trong những làng gốm cổ nhất Đông Nam Á. Trải qua hàng trăm năm, nơi đây vẫn giữ nhiều kỹ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm. Khác với nhiều làng gốm khác, nghệ nhân Bàu Trúc không sử dụng bàn xoay. Người thợ di chuyển quanh khối đất sét, dùng đôi tay khéo léo nắn từng đường nét. Những chiếc bình, chum, tượng hay vật trang trí dần hình thành từ đôi tay của các nghệ nhân. Đất sét được lấy từ các cánh đồng ven sông, sau đó trộn với cát mịn để tăng độ bền. Người thợ vuốt, nặn và tạo hình hoàn toàn thủ công. Chính phương pháp này tạo nên nét đặc trưng cho gốm Bàu Trúc. Mỗi sản phẩm đều có dấu ấn riêng, không chiếc nào giống chiếc nào hoàn toàn. Sau khi tạo hình, sản phẩm được phơi khô dưới nắng rồi nung lộ thiên bằng củi và rơm. Cách nung này tạo ra các màu sắc tự nhiên như đỏ sậm, nâu hoặc đen ánh khói. Ngày nay, gốm Bàu Trúc không chỉ phục vụ đời sống sinh hoạt mà còn trở thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ được nhiều du khách yêu thích. Ông Phú Hữu Minh Thuận - Giám đốc Hợp tác xã gốm Bàu Trúc, cho biết: “Trước đây sản phẩm chủ yếu là chum, vại, nồi và bình đựng nước. Hiện nay chúng tôi phát triển thêm nhiều dòng sản phẩm mỹ nghệ, đồ trang trí và quà lưu niệm phục vụ du lịch”. Theo ông Thuận, làng nghề đang kết hợp sản xuất gốm truyền thống với du lịch trải nghiệm. Du khách có thể tham quan, tìm hiểu lịch sử làng nghề và trực tiếp thử làm gốm. BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHĂM Cùng với di tích và làng nghề, cộng đồng người Chăm ở Nam Khánh Hòa vẫn bảo tồn nhiều lễ hội truyền thống. Lớn nhất là lễ hội Katê của cộng đồng Chăm theo đạo Bàlamôn. Trong lễ hội, người Chăm thực hiện nhiều nghi thức như rước y phục thần, mở cửa tháp và dâng lễ. Bên cạnh phần lễ trang nghiêm là phần hội sôi động với các điệu múa truyền thống, tiếng trống Ginăng và kèn Saranai. Một lễ hội quan trọng khác là Ramưwan của cộng đồng Chăm theo đạo Bàni. Lễ thường diễn ra vào khoảng tháng 4 Dương lịch. Trước lễ Ramưwan, các gia đình thực hiện nghi thức tảo mộ, dọn dẹp nghĩa địa và cầu nguyện cho tổ tiên. Sau đó, các chức sắc tôn giáo tiến hành nghi lễ tại thánh đường và bước vào tháng chay Ramưwan. Ngoài ra còn có lễ hội Rija Nagar - nghi lễ cầu an và cầu mưa của người Chăm, thường tổ chức vào đầu năm. Các lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng mà còn phản ánh đời sống văn hóa và lịch sử lâu đời của cộng đồng Chăm. Theo PGS.TS Phan Quốc Anh (nguyên Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận), Nam Khánh Hòa là khu vực còn bảo tồn khá đầy đủ các giá trị văn hóa của người Chăm tại Việt Nam. Nơi đây không chỉ có cộng đồng người Chăm sinh sống đông đảo mà còn lưu giữ nhiều di sản vật thể và phi vật thể của nền văn minh Champa. Các tháp Chăm phản ánh trình độ kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật điêu khắc của người Chăm từ hàng trăm năm trước. Trong khi đó, các sản phẩm gốm và thổ cẩm thể hiện rõ bản sắc văn hóa và thẩm mỹ của cộng đồng. PHÙNG QUANG - CÔNG HOAN 9 n Thứ Ba n Ngày 24/3/2026 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Chăm, PGS.TS Phan Quốc Anh đề nghị cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết là bảo tồn nguyên vẹn các di tích kiến trúc cổ, đặc biệt là hệ thống tháp Chăm. Đồng thời cần tăng cường nghiên cứu, sưu tầm và lưu giữ tư liệu văn hóa. Bên cạnh đó, cần gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch. Các lễ hội, làng nghề và hoạt động trải nghiệm sẽ giúp du khách hiểu rõ hơn về đời sống của cộng đồng Chăm. tượng Quốc bảo Vẻ đẹp cổ kính của Tháp Bà Ponagar ở phường Bắc Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa điểm chung là di sản không bị giữ trong trạng thái đóng băng, thay vào đó, chúng liên tục được tái tạo qua những định dạng mà công chúng đương đại dễ tiếp nhận như phim ảnh, âm nhạc, game, thời trang... VIỆT NAM KHÔNG THIẾU CHẤT LIỆU, NHƯNG THIẾU “CÂU CHUYỆN” Việt Nam có 9 di sản thế giới, 17 di sản phi vật thể được UNESCO ghi danh cùng hàng nghìn chất liệu văn hóa trải dài từ Bắc vào Nam. Về mặt nguyên liệu, Việt Nam không hề thua kém bất kỳ quốc gia nào. Điện ảnh Việt thời gian gần đây cũng đã cho thấy những tín hiệu đáng chú ý. Mưa đỏ đạt doanh thu hơn 700 tỷ đồng, trở thành phim Việt ăn khách nhất lịch sử. Thám tử Kiên: Kỳ án không đầu được phát hành tại 12 quốc gia, từ Mỹ, châu Âu đến Nhật Bản, đồng thời khai thác bối cảnh làng quê Việt Nam thời nhà Nguyễn, với hệ thống phục trang, kiến trúc và tín ngưỡng được tái hiện theo không gian văn hóa thế kỷ XIX. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở cách tiếp cận. Nhiều sản phẩm vẫn dừng ở mức tái hiện, tức là dựng lại bối cảnh, phục dựng trang phục, kể lại lịch sử. Điều này tạo giá trị tư liệu, nhưng chưa đủ để tạo ra sức hút đại chúng ở quy mô quốc tế. “Điểm khác biệt giữa Quốc bảo và nhiều phim Việt nằm ở việc bộ phim Nhật không giới thiệu Kabuki, mà dùng Kabuki để kể một câu chuyện có tính phổ quát. Người xem không cần hiểu Kabuki vẫn hiểu được khát vọng, ganh đua, cô độc của nhân vật. Nói cách khác, Kabuki là chất liệu, không phải mục tiêu”, nhà phê bình Hoàng Kim Tuấn phân tích. Ông Tuấn cho rằng, chính cách tiếp cận này đã mở ra khả năng quảng bá văn hóa theo hướng tự nhiên và hiệu quả hơn. Khi khán giả bị cuốn vào câu chuyện, họ sẽ chủ động tìm hiểu về Kabuki như một phần của trải nghiệm, thay vì tiếp nhận thông tin theo kiểu giới thiệu. “Một bộ phim nếu chỉ dừng ở việc giải thích di sản thì sẽ khó vượt qua rào cản văn hóa. Nhưng khi di sản được đặt trong một câu chuyện đủ hấp dẫn, nó trở thành cầu nối, giúp khán giả quốc tế tiếp cận mà không cần chuẩn bị trước về kiến thức, như vậy điện ảnh có thể đóng vai trò như một cửa ngõ đưa văn hóa ra thế giới”, ông Tuấn nói. Một điểm đáng chú ý nữa trong cách Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển công nghiệp văn hóa là tính hệ thống. Sự thành công không đến từ một cá nhân hay một dự án đơn lẻ, mà từ sự phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp và nghệ sĩ. Ở Hàn Quốc, chiến lược Hallyu được Chính phủ định hướng từ đầu những năm 2000, đi kèm các chính sách hỗ trợ tài chính, đào tạo và xuất khẩu nội dung. Doanh nghiệp giải trí giữ vai trò sản xuất, vận hành thị trường, trong khi nghệ sĩ trở thành trung tâm sáng tạo và lan tỏa. Nhật Bản cũng duy trì cách tiếp cận tương tự, với việc bảo tồn các giá trị truyền thống song song với đầu tư vào điện ảnh, anime và các sản phẩm văn hóa đại chúng. Sự liên kết này tạo thành một chuỗi giá trị khép kín, từ sản xuất, quảng bá đến phân phối quốc tế. Nhờ đó, mỗi sản phẩm văn hóa không tồn tại độc lập mà trở thành một mắt xích trong hệ sinh thái, có khả năng kéo theo du lịch, tiêu dùng và đầu tư. Ở Việt Nam, chuỗi giá trị này vẫn chưa hình thành rõ ràng. Một bộ phim thành công thường kết thúc vòng đời ở phòng vé. Việc mở rộng sang sản phẩm ăn theo, trải nghiệm du lịch hay bản quyền quốc tế vẫn còn hạn chế. HẠ ĐAN Việt Nam có 9 di sản thế giới, 17 di sản phi vật thể được UNESCO ghi danh cùng hàng nghìn chất liệu văn hóa trải dài từ Bắc vào Nam, rất thuận tiện cho quá trình quảng bá văn hóa Người thợ làng gốm Bàu Trúc đang nặn đất Thám tử Kiên đã xuất khẩu sang nhiều quốc gia nhưng chưa đạt kỳ vọng như mong đợi
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==