3 n Thứ Hai n Ngày 23/3/2026 THỜI SỰ Theo số liệu từ Cục Hải quan, trong hai tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ đạt xấp xỉ 600 triệu USD, giảm hơn 11%. Nguyên nhân giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh xuống còn khoảng 460-465 USD/tấn, thấp hơn hơn 15% so với cùng kỳ. Diễn biến này phản ánh rõ một chu kỳ điều chỉnh của thị trường sau giai đoạn tăng nóng kéo dài từ năm 2024 sang 2025. Khi nguồn cung toàn cầu dần được khôi phục, đặc biệt từ Ấn Độ, Thái Lan và Pakistan, mặt bằng giá gạo thế giới nhanh chóng hạ nhiệt. Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu lớn như Philippines, Indonesia hay một số nước châu Phi chuyển sang chiến lược “mua chậm, chờ giá”, thay vì tích trữ ồ ạt như trước. Trên thị trường, giá gạo 5% tấm của Việt Nam hiện chỉ dao động quanh mức 360-370 USD/ tấn, giảm sâu so với đỉnh năm ngoái. Nhiều khách hàng truyền thống kéo dài đàm phán, chia nhỏ hợp đồng hoặc trì hoãn ký mới để tránh rủi ro giá tiếp tục giảm. Cùng với đó, nguồn cung trong nước tăng nhanh khi vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ, khiến áp lực dư cung ngắn hạn càng rõ nét. Dữ liệu hai tháng đầu năm cũng cho thấy, Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất, nhập khẩu khoảng 620.000 tấn, chiếm gần 48% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy vậy, ở chiều ngược lại, nhiều thị trường truyền thống suy giảm mạnh như xuất sang Ghana giảm khoảng 31%, Bờ Biển Ngà giảm tới trên 90%. Đáng chú ý, Indonesia từng là thị trường lớn trong năm 2024-2025, song trong năm nay gần như chững lại do theo đuổi chiến lược tự chủ lương thực và đang hướng tới xuất khẩu trở lại trong thời gian tới. Ông Phạm Thái Bình - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An - cho biết nhu cầu vẫn tồn tại, đặc biệt ở phân khúc gạo chất lượng cao, nhưng không còn bùng nổ như năm trước. Khách hàng hiện rất thận trọng, họ không ký hợp đồng lớn mà chia nhỏ từng lô. Doanh nghiệp buộc phải chọn đơn hàng kỹ hơn, tránh rủi ro giá tiếp tục giảm sau khi đã ký. Ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam - thừa nhận năm 2026 sẽ là một năm khó khăn hơn khi nguồn cung thế giới dồi dào trở lại. Theo định hướng của ngành, sản lượng xuất khẩu có thể chỉ duy trì quanh mức 7 triệu tấn, thay vì chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá như trước. Trước tình hình này, Bộ Công Thương vừa yêu cầu các đơn vị thuộc Bộ, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố, Hiệp hội Lương thực Việt Nam và các thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo triển khai đồng bộ giải pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu gạo, bảo đảm cân đối thị trường. XUÂN PHONG Giá gạo xuất khẩu giảm đáng kể trong 2 tháng đầu năm nay Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam đang “hạ nhiệt” rõ rệt. Tâm lý thận trọng bao trùm thị trường khi khách hàng chuyển sang “mua chậm, chờ giá”, trong khi nguồn cung toàn cầu phục hồi và áp lực dư cung trong nước gia tăng. THỊ TRƯỜNG GẠO XUẤT KHẨU: Chậm mua, chờ giá Hội thảo “An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu” do báo Tiền Phong cùng UBND TP. Cần Thơ và đơn vị đồng hành - Tập đoàn Keppel tổ chức. Đây là diễn đàn để các bộ ngành, chuyên gia, địa phương và doanh nghiệp cùng thảo luận, chia sẻ các giải pháp, kinh nghiệm trong thích ứng với hạn, mặn, sạt lở và an ninh nguồn nước, hướng tới phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ. Theo nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, những can nước phải chắt chiu trong mùa khô, những cánh đồng mới đầu mùa khô đã nứt nẻ, những vườn cây héo úa không còn là hình ảnh cá biệt, mà đang trở thành thực tế lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua tại vùng đất này. Đó không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên. Đó là lời cảnh báo về an ninh nguồn nước, một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của ĐBSCL hôm nay và trong tương lai. Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nêu rõ: Những năm gần đây, ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc vào dòng chảy thượng nguồn. Trong khi đó, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo. “Có những nơi, nước mặn đã vào tới từng con kênh nội đồng. Có những thời điểm, ngay cả nước sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng. Người dân phải nhờ vào từng chuyến sà lan chở nước về để sử dụng. Không chỉ vậy, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng với sự suy giảm phù sa đang làm thay đổi cấu trúc tự nhiên của cả vùng. Đồng bằng không chỉ thiếu nước, mà còn đang mất đi những điều kiện nền tảng để tự phục hồi. Tất cả những yếu tố đó đã tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người dân, đến sản xuất nông nghiệp, đến môi trường và cả cấu trúc kinh tế - xã hội của vùng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến cho biết. Trước những thách thức đó, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh yêu cầu buộc phải đặt ra những câu hỏi rất thẳng thắn: Chúng ta sẽ tiếp tục thích ứng ra sao trong bối cảnh hiện nay? Chúng ta sẽ đầu tư theo cách dàn trải hay tiếp cận theo tư duy tổng thể, liên kết vùng? Và quan trọng hơn, chúng ta sẽ hành động đến đâu trước những biến đổi đang diễn ra từng ngày? Tại hội thảo, ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ NN&MT) cho biết, Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo an ninh nguồn nước, trong đó có vùng ĐBSCL. Định hướng lớn là tối ưu hóa nguồn nước từ sông Mê Kông, đồng thời chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và biến động từ thượng nguồn. Đối với nước mặt, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dân sinh và các ngành kinh tế. Giải pháp trọng tâm là khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, tăng cường trữ nước, giữ ngọt, đặc biệt tại các khu vực thường xuyên bị hạn mặn như ven biển, bán đảo Cà Mau. Việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi được đặt ra. Đối với nước dưới đất, yêu cầu là khai thác hợp lý, không vượt ngưỡng giới hạn, kết hợp kiểm soát sụt lún, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, hạn chế khai thác tràn lan cho sản xuất. Ông Khuyến cho biết thêm, trong quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long, các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 gồm 100% vị trí giám sát dòng chảy xuyên biên giới được giám sát tự động, trực tuyến; 100% nguồn nước liên tỉnh được công bố khả năng tiếp nhận nước thải; 100% công trình khai thác, xả thải được giám sát vận hành; 100% nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường; 50% nguồn nước thuộc đối tượng lập hành lang bảo vệ được cắm mốc theo quy định. NGÔ TÙNG Nghịch lý ở vùng đất trù phú bậc nhất Việt Nam Phát biểu tại Hội thảo “An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu”, sáng 22/3, tại Cần Thơ, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập báo Tiền Phong nhấn mạnh một nghịch lý đang hiện hữu ngay tại vùng đất trù phú bậc nhất cả nước: “Giữa mạng lưới sông ngòi dày đặc vùng sông nước, người dân lại đang thiếu nước ngọt để sinh hoạt và sản xuất”. Đại biểu tham quan các gian hàng bên hành lang hội thảo Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nêu rõ: Những năm gần đây, ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc vào dòng chảy thượng nguồn. Trong khi đó, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo. PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam cho biết, đối với ĐBSCL, nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông, chiếm tới 95%, trong khi nguồn nội sinh chỉ đóng góp khoảng 5%, tương đương 22 tỷ m3 và chủ yếu tập trung vào mùa mưa. Điều này cho thấy sự phụ thuộc rất lớn của đồng bằng vào các yếu tố ngoại sinh, đặc biệt là hoạt động khai thác và điều tiết nước ở thượng nguồn. Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập báo Tiền Phong phát biểu khai mạc hội thảo ẢNH: PHẠM NGUYỄN
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==