Báo Tiền Phong số 82

THỨ HAI 23/3/2026 Số 82 0977.456.112 TRANG 4-5 TRANG 2 TRANG 3 TRANG 8-9 TRANG 12 TRANG 7 CHUYỆN HÔM NAY Ổn định năng lượng giữa sóng lớn XEM TIẾP TRANG 4 n NGUYỄN TUẤN Giá xăng dầu những ngày qua không còn là con số khô khan trên bảng điện tử, mà trở thành một dạng “áp lực lan tỏa” – từ nhà máy, doanh nghiệp vận tải cho tới từng bữa cơm gia đình. Thành Đoàn Hà Nội vinh danh 95 cán bộ Đoàn tiêu biểu TIẾP TỤC PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG “MỞ ĐƯỜNG THẮNG LỢI” Điều chưa từng có ở Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu, triển vọng Ông Trump ra tối hậu thư với Iran TRANG 6 BÁO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Y KHOA TĂNG TỐC triển khai xăng E10 Việc triển khai xăng E10 trong bối cảnh hiện nay góp phần giảm áp lực nguồn cung ẢNH: PV HẤP DẪN CUỘC ĐUA “VƯƠNG MIỆN” TRANG 16 TRANG 4-5 Dứt khoát không để thiếu xăng dầu Nghịch lý ở vùng đất trù phú bậc nhất Việt Nam

2 THỜI SỰ n Thứ Hai n Ngày 23/3/2026 Sáng 22/3, tại Hà Nội, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Binh chủng Công binh (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Binh chủng Công binh (25/3/1946-25/3/2026) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương, dự và phát biểu tại buổi lễ. CHẶNG ĐƯỜNG 80 NĂM VẺ VANG Trình bày diễn văn kỷ niệm tại buổi lễ, Thiếu tướng Trần Trung Hòa, Tư lệnh Binh chủng Công binh, cho biết cách đây tròn 80 năm, ngày 25/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Công chính giao thông Cục - tiền thân của Binh chủng Công binh ngày nay. Từ dấu mốc lịch sử ấy, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; sự nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che của nhân dân, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công binh đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Nhìn lại chặng đường 80 năm vẻ vang, Bộ đội Công binh tự hào về những chiến công đặc biệt xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Đó là những năm tháng Bộ đội Công binh vừa chiến đấu, vừa trưởng thành, lớn mạnh trong bom đạn; lấy gian khổ làm môi trường rèn luyện, lấy hiểm nguy làm nơi thử thách ý chí, lấy thắng lợi của chiến trường làm mục tiêu cao nhất. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Bộ binh như mũi mác, công binh như cán mác, cán có chắc, mũi có sắc thì mới đâm được giặc”, Bộ đội Công binh đã tích cực, chủ động, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, xẻ núi, mở đường, bắc cầu, xây dựng hầm hào... bảo đảm cho quân ta tiến lên tiêu diệt địch, liên tiếp giành thắng lợi. Những cống hiến xuất sắc ấy được ghi nhận bằng phần thưởng cao quý: Cờ “Mở đường thắng lợi” Bác Hồ trao tặng sau Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, trở thành truyền thống vẻ vang của Công binh Việt Nam anh hùng. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Binh chủng Công binh đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác. THÍCH ỨNG NHANH VỚI ĐIỀU KIỆN TÁC CHIẾN MỚI Tại buổi lễ, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm nhiệt liệt biểu dương, ghi nhận và chúc mừng những chiến công, thành tích đặc biệt xuất sắc của Binh chủng Công binh. Tổng Bí thư lưu ý, chúng ta đang sống trong một thế giới chuyển động rất nhanh, rất phức tạp, tạo ra nhiều khó khăn, thách thức. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu mới, rất cao, rất toàn diện đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Muốn hoàn thành tốt sứ mệnh “kẻ thù nào cũng đánh thắng”, Tổng Bí thư đề nghị Binh chủng Công binh tuyệt đối trung thành, tuyệt đối chấp hành, tuyệt đối sẵn sàng chiến đấu; giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao nhận thức chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Binh chủng phải tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; nắm vững tư duy mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và các chủ trương chiến lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Binh chủng triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả 2 kiên định (kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị), 2 đẩy mạnh (đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng), 2 ngăn ngừa (ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân), phương châm 5 vững (Chính trị vững, kỷ luật vững, công nghệ vững, nghệ thuật quân sự vững, đời sống bộ đội vững). Cán bộ, chiến sĩ Công binh phải có bản lĩnh chính trị thật vững vàng, có ý chí chiến đấu thật cao, có tinh thần trách nhiệm thật lớn, nhận rõ vinh dự và trách nhiệm của mình trong đội hình Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Tổng Bí thư yêu cầu xây dựng lực lượng Công binh tinh, gọn, mạnh, hiện đại; phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công binh có bản lĩnh, có tri thức, có kỹ năng, có tác phong chính quy, có kỷ luật sắt, có khả năng làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại và thích ứng nhanh với điều kiện tác chiến mới. Huấn luyện phải cơ bản, thiết thực, vững chắc. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Công binh phải thật sự là người lính có ý chí thép, thao tác thuần thục, phản ứng chính xác, hành động dứt khoát, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, kỷ luật. Tổng Bí thư nhấn mạnh tiếp tục phát huy truyền thống “Mở đường thắng lợi”, đi đầu trong xây dựng công trình quốc phòng, rà phá bom mìn, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và các nhiệm vụ đột xuất, đặc biệt. Binh chủng phải nâng cao hơn nữa năng lực quản lý, xây dựng công trình chiến đấu, công trình phòng thủ theo hướng hiện đại, chất lượng cao, sức chiến đấu cao; phải chủ động tham mưu và tổ chức tốt nhiệm vụ bảo đảm công binh trong các hình thái tác chiến; phải tiếp tục đẩy mạnh năng lực rà phá bom mìn, làm sạch đất đai, trả lại môi trường an toàn cho người dân, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; phấn đấu cơ bản hoàn thành nhiệm vụ khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh vào năm 2045 hoặc sớm hơn. Trong thiên tai, thảm họa, sự cố, cứu nạn, cứu hộ, Công binh phải tiếp tục là lực lượng đi trước, đến sớm nhất, bám trụ bền bỉ nhất, hành động quả cảm nhất. Bộ đội Công binh không chỉ là lực lượng chiến đấu của Quân đội; còn là lực lượng của lòng dân, vì dân, được dân tin, dân quý, dân gửi gắm niềm tin trong lúc gian nan. Tổng Bí thư chỉ rõ phải tạo bước đột phá mạnh mẽ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; nhanh chóng làm chủ kỹ thuật, công nghệ mới; phải gắn nghiên cứu khoa học với nhiệm vụ thực tiễn; mở rộng hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phù hợp với điều kiện Việt Nam, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và bảo đảm chiến đấu trong tình hình mới. Chăm lo xây dựng Đảng bộ Binh chủng trong sạch, vững mạnh, toàn diện, “Mẫu mực, tiêu biểu”; giữ vững đoàn kết, thống nhất, kỷ luật, đạo đức, văn hóa và mối quan hệ máu thịt với nhân dân, Tổng Bí thư nhấn mạnh đây là gốc của mọi thắng lợi. Truyền thống anh hùng phải được giữ bằng Đảng bộ mạnh, tổ chức chặt, cán bộ tốt, kỷ luật nghiêm, nội bộ đoàn kết, đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, bằng phong trào thi đua quyết thắng sôi nổi, thiết thực. Binh chủng phải tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị kiên định, phẩm chất đạo đức trong sáng, tác phong chính quy, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nhận việc khó, hoàn thành việc khó. Binh chủng phải chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, nhất là những đơn vị làm nhiệm vụ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn khó khăn và ở nước ngoài; phải làm tốt công tác dân vận, chính sách, đền ơn đáp nghĩa; chính sách hậu phương quân đội, gắn bó máu thịt với nhân dân; góp phần củng cố vững chắc thế trận lòng dân. Hình ảnh Bộ đội Công binh phải luôn là hình ảnh của bản lĩnh, trách nhiệm, nghĩa tình, kỷ luật, chính xác, tận tụy, xung kích và chiến thắng. Tổng Bí thư khẳng định 80 năm qua, Bộ đội Công binh đã viết nên bản anh hùng ca bằng mồ hôi, trí tuệ, máu xương, lòng trung thành và tinh thần chiến đấu kiên cường của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Truyền thống đó là niềm tự hào, là tài sản vô giá, là mệnh lệnh thôi thúc mỗi cán bộ, chiến sĩ hôm nay phải sống, học tập, rèn luyện và chiến đấu xứng đáng hơn nữa. PV (theo TTXVN) Tổng Bí thư nhấn mạnh, Binh chủng Công binh phải đi đầu trong xây dựng công trình quốc phòng, rà phá bom mìn, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và các nhiệm vụ đột xuất, đặc biệt. QUAÛNG CAÙO PHAÙT HAØNH Haø Noäi: ÑT: (024)39432758; Fax: (024)39435285 TPHCM: ÑT: (028)38469860; Fax: (028)38480015 Trong giôø haønh chính (024)39439664 Ngoaøi giôø 0912033213 (Thu Hieàn) n Thieát keá : QUANG HUY n Giaù: 5.500 ñoàng n Ban ñaiï dienä taiï thanø h pho á Ho à Chí Minh: 384 Nam Kyø Khôiû Nghóa, P.Xuanâ Hoa-ø TPHCM. ÑT: (028) 3848 4366, E-mail: tienphonghcm@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï mienà Trung: 339 Leâ Thanh Nghò, P.Hoaø Cöônø g; 19 Ngoâ Gia Tö,ï P.Haiû Chauâ , TP Ña ø Nanü g, ÑT: (0236)3828 039, E-mail: banmientrung@baotienphong.com.vn n Ban ñaiï dienä taiï Bacé Trung Bo:ä 21 Ho à Xuanâ Höông, P.Thanø h Vinh, tænh Ngheä An. ÑT: (0238)8602345; Email: baotienphongbactrungbo@gmail.com. n Ban ñaiï dienä taiï ÑBSCL: 103 Tranà Vanê Hoaiø , P.Ninh Kieuà , TP Canà Thô. ÑT: (0292)3823823, Email: baotienphongdbscl@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Nguyenâ - Nam Trung Bo:ä 52 Tranà Nhatä Duatä , P.Buonâ Ma Thuotä , Ñaké Laké , ÑT: (0262)3950029, E-mail: baotienphongtaynguyen@gmail.com; 1018, ñöônø g 2/4, P. Bacé Nha Trang, tænh Khanù h Hoaø . SÑT: 0258.6500.155. Email: tienphongnhatrang@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Bacé Bo:ä 64 ñöônø g Ly ù Tö ï Tronï g, P.Yenâ Baiù , tænh Laoø Cai. ÑT: 0904938689, E-mail: vptaybacbotp@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Ñonâ g Bacé Bo:ä So á 18 Le â Thanh Nghò, P.Haï Long, tænh Quanû g Ninh; E-mail: bandongbac@baotienphong.com.vn n Toøa soaïn: 15 Hoà Xuaân Höông, P.Hai Baø Tröng vaø D29 Phaïm Vaên Baïch, P.Caàu Giaáy, Haø Noäi. ÑT: 3943 4031 - 38227525 E-Mail: toasoan@baotienphong.com.vn, ISSN 0866-0827 Website: www.tienphong.vn n Toång Bieân taäp: PHUØNG COÂNG SÖÔÛNG n Phoù Toång Bieân taäp: Nguyeãn Ngoïc Tieán, Traàn Thò Thu Haø n In taiï : Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 1, Cty in baoù Nhanâ Danâ Ña ø Nanü g, Cty TNHH MTV in Ñaé êkê Laké , Xöônû g in Quanâ khu IV, Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 2, TPHCM Tại buổi Lễ, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Binh chủng Công binh, phần thưởng cao quý, thể hiện sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước đối với bề dày truyền thống, công lao to lớn, đặc biệt xuất sắc của Binh chủng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày một số trang bị đặc chủng của Binh chủng Công binh Tiếp tục phát huy truyền thống “Mở đường thắng lợi” TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM:

3 n Thứ Hai n Ngày 23/3/2026 THỜI SỰ Theo số liệu từ Cục Hải quan, trong hai tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ đạt xấp xỉ 600 triệu USD, giảm hơn 11%. Nguyên nhân giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh xuống còn khoảng 460-465 USD/tấn, thấp hơn hơn 15% so với cùng kỳ. Diễn biến này phản ánh rõ một chu kỳ điều chỉnh của thị trường sau giai đoạn tăng nóng kéo dài từ năm 2024 sang 2025. Khi nguồn cung toàn cầu dần được khôi phục, đặc biệt từ Ấn Độ, Thái Lan và Pakistan, mặt bằng giá gạo thế giới nhanh chóng hạ nhiệt. Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu lớn như Philippines, Indonesia hay một số nước châu Phi chuyển sang chiến lược “mua chậm, chờ giá”, thay vì tích trữ ồ ạt như trước. Trên thị trường, giá gạo 5% tấm của Việt Nam hiện chỉ dao động quanh mức 360-370 USD/ tấn, giảm sâu so với đỉnh năm ngoái. Nhiều khách hàng truyền thống kéo dài đàm phán, chia nhỏ hợp đồng hoặc trì hoãn ký mới để tránh rủi ro giá tiếp tục giảm. Cùng với đó, nguồn cung trong nước tăng nhanh khi vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ, khiến áp lực dư cung ngắn hạn càng rõ nét. Dữ liệu hai tháng đầu năm cũng cho thấy, Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất, nhập khẩu khoảng 620.000 tấn, chiếm gần 48% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy vậy, ở chiều ngược lại, nhiều thị trường truyền thống suy giảm mạnh như xuất sang Ghana giảm khoảng 31%, Bờ Biển Ngà giảm tới trên 90%. Đáng chú ý, Indonesia từng là thị trường lớn trong năm 2024-2025, song trong năm nay gần như chững lại do theo đuổi chiến lược tự chủ lương thực và đang hướng tới xuất khẩu trở lại trong thời gian tới. Ông Phạm Thái Bình - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An - cho biết nhu cầu vẫn tồn tại, đặc biệt ở phân khúc gạo chất lượng cao, nhưng không còn bùng nổ như năm trước. Khách hàng hiện rất thận trọng, họ không ký hợp đồng lớn mà chia nhỏ từng lô. Doanh nghiệp buộc phải chọn đơn hàng kỹ hơn, tránh rủi ro giá tiếp tục giảm sau khi đã ký. Ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam - thừa nhận năm 2026 sẽ là một năm khó khăn hơn khi nguồn cung thế giới dồi dào trở lại. Theo định hướng của ngành, sản lượng xuất khẩu có thể chỉ duy trì quanh mức 7 triệu tấn, thay vì chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá như trước. Trước tình hình này, Bộ Công Thương vừa yêu cầu các đơn vị thuộc Bộ, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố, Hiệp hội Lương thực Việt Nam và các thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo triển khai đồng bộ giải pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu gạo, bảo đảm cân đối thị trường. XUÂN PHONG Giá gạo xuất khẩu giảm đáng kể trong 2 tháng đầu năm nay Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam đang “hạ nhiệt” rõ rệt. Tâm lý thận trọng bao trùm thị trường khi khách hàng chuyển sang “mua chậm, chờ giá”, trong khi nguồn cung toàn cầu phục hồi và áp lực dư cung trong nước gia tăng. THỊ TRƯỜNG GẠO XUẤT KHẨU: Chậm mua, chờ giá Hội thảo “An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu” do báo Tiền Phong cùng UBND TP. Cần Thơ và đơn vị đồng hành - Tập đoàn Keppel tổ chức. Đây là diễn đàn để các bộ ngành, chuyên gia, địa phương và doanh nghiệp cùng thảo luận, chia sẻ các giải pháp, kinh nghiệm trong thích ứng với hạn, mặn, sạt lở và an ninh nguồn nước, hướng tới phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ. Theo nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, những can nước phải chắt chiu trong mùa khô, những cánh đồng mới đầu mùa khô đã nứt nẻ, những vườn cây héo úa không còn là hình ảnh cá biệt, mà đang trở thành thực tế lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua tại vùng đất này. Đó không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên. Đó là lời cảnh báo về an ninh nguồn nước, một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của ĐBSCL hôm nay và trong tương lai. Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nêu rõ: Những năm gần đây, ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc vào dòng chảy thượng nguồn. Trong khi đó, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo. “Có những nơi, nước mặn đã vào tới từng con kênh nội đồng. Có những thời điểm, ngay cả nước sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng. Người dân phải nhờ vào từng chuyến sà lan chở nước về để sử dụng. Không chỉ vậy, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng với sự suy giảm phù sa đang làm thay đổi cấu trúc tự nhiên của cả vùng. Đồng bằng không chỉ thiếu nước, mà còn đang mất đi những điều kiện nền tảng để tự phục hồi. Tất cả những yếu tố đó đã tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người dân, đến sản xuất nông nghiệp, đến môi trường và cả cấu trúc kinh tế - xã hội của vùng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến cho biết. Trước những thách thức đó, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh yêu cầu buộc phải đặt ra những câu hỏi rất thẳng thắn: Chúng ta sẽ tiếp tục thích ứng ra sao trong bối cảnh hiện nay? Chúng ta sẽ đầu tư theo cách dàn trải hay tiếp cận theo tư duy tổng thể, liên kết vùng? Và quan trọng hơn, chúng ta sẽ hành động đến đâu trước những biến đổi đang diễn ra từng ngày? Tại hội thảo, ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ NN&MT) cho biết, Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo an ninh nguồn nước, trong đó có vùng ĐBSCL. Định hướng lớn là tối ưu hóa nguồn nước từ sông Mê Kông, đồng thời chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và biến động từ thượng nguồn. Đối với nước mặt, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dân sinh và các ngành kinh tế. Giải pháp trọng tâm là khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, tăng cường trữ nước, giữ ngọt, đặc biệt tại các khu vực thường xuyên bị hạn mặn như ven biển, bán đảo Cà Mau. Việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi được đặt ra. Đối với nước dưới đất, yêu cầu là khai thác hợp lý, không vượt ngưỡng giới hạn, kết hợp kiểm soát sụt lún, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, hạn chế khai thác tràn lan cho sản xuất. Ông Khuyến cho biết thêm, trong quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long, các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 gồm 100% vị trí giám sát dòng chảy xuyên biên giới được giám sát tự động, trực tuyến; 100% nguồn nước liên tỉnh được công bố khả năng tiếp nhận nước thải; 100% công trình khai thác, xả thải được giám sát vận hành; 100% nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường; 50% nguồn nước thuộc đối tượng lập hành lang bảo vệ được cắm mốc theo quy định. NGÔ TÙNG Nghịch lý ở vùng đất trù phú bậc nhất Việt Nam Phát biểu tại Hội thảo “An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu”, sáng 22/3, tại Cần Thơ, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập báo Tiền Phong nhấn mạnh một nghịch lý đang hiện hữu ngay tại vùng đất trù phú bậc nhất cả nước: “Giữa mạng lưới sông ngòi dày đặc vùng sông nước, người dân lại đang thiếu nước ngọt để sinh hoạt và sản xuất”. Đại biểu tham quan các gian hàng bên hành lang hội thảo Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nêu rõ: Những năm gần đây, ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc vào dòng chảy thượng nguồn. Trong khi đó, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo. PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam cho biết, đối với ĐBSCL, nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông, chiếm tới 95%, trong khi nguồn nội sinh chỉ đóng góp khoảng 5%, tương đương 22 tỷ m3 và chủ yếu tập trung vào mùa mưa. Điều này cho thấy sự phụ thuộc rất lớn của đồng bằng vào các yếu tố ngoại sinh, đặc biệt là hoạt động khai thác và điều tiết nước ở thượng nguồn. Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập báo Tiền Phong phát biểu khai mạc hội thảo ẢNH: PHẠM NGUYỄN

4 n Thứ Hai n Ngày 23/3/2026 THỜI SỰ CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ để rà soát công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong việc ứng phó với cuộc khủng hoảng năng lượng do các tác động của xung đột tại Trung Đông và việc triển khai Kết luận số 14 của Bộ Chính trị về bảo đảm nguồn cung, giá nhiên liệu ổn định trong tình hình mới. Các ý kiến tại cuộc họp đánh giá, trước diễn biến phức tạp tại Trung Đông và khó khăn trên thị trường năng lượng thế giới, những ngày qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp ứng phó kịp thời, linh hoạt, phù hợp, hiệu quả. Cơ bản đến nay, tình hình được kiểm soát tốt, an ninh năng lượng được bảo đảm. Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính đồng tình với các nhận định, đánh giá tại cuộc họp về việc khủng hoảng xăng dầu trên thế giới lần này rất phức tạp, khó định đoán. Vì vậy, vừa phải có các biện pháp, giải pháp xử lý trước mắt, vừa phải có các biện pháp căn cơ, lâu dài, trên tinh thần phải hết sức bình tĩnh, kiên định các nguyên tắc lớn và linh hoạt trong quá trình điều hành, quản lý. Thủ tướng nhấn mạnh 4 mục tiêu lớn: Dứt khoát không để thiếu năng lượng nói chung và xăng dầu nói riêng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng trong bất cứ tình hình nào; phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân; phục vụ cho tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2026 và những năm tiếp theo; quản trị được các rủi ro có thể xảy ra. Thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, doanh nghiệp liên quan thực hiện nghiêm, kịp thời, hiệu quả các chỉ đạo của Bộ Chính trị trong Kết luận số 14 về bảo đảm nguồn cung và giá nguyên liệu ổn định. ƯU TIÊN SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CÔNG CỘNG Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương tiếp tục bám sát, dự báo tình hình, diễn biến thị trường xăng dầu thế giới và trong nước, chủ động đánh giá cung cầu và giá cả xăng dầu thế giới để chủ động xây dựng kịch bản ứng phó hiệu quả; kịp thời báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền. Cùng với đó, chỉ đạo các thương nhân đầu mối sản xuất, kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch nguồn hàng, bảo đảm cung cấp đầy đủ xăng dầu cho hệ thống phân phối; duy trì hoạt động bán hàng thường xuyên, bán đúng giá niêm yết; kịp thời điều tiết nguồn cung giữa các khu vực, địa bàn, không để thiếu hụt, đứt gãy nguồn cung xăng dầu. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan trong công tác điều hành giá xăng dầu theo đúng quy định của pháp luật để bảo đảm an ninh năng lượng, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, chống tham nhũng, tiêu cực, chống lợi ích nhóm, trục lợi chính sách. Thủ tướng giao Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu sử dụng ngay các công cụ chính sách tài khoá (các loại thuế, phí, chi, ứng chi ngân sách), chính sách quản lý giá. Theo dõi sát tình hình thị trường, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương thực hiện điều hành giá xăng dầu theo quy định pháp luật hiện hành, bảo đảm thực hiện mục tiêu bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về hỗ trợ lãi suất, vay vốn, nhu cầu ngoại tệ để các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xăng dầu tiếp cận nguồn vốn phục vụ nhập khẩu, dự trữ và kinh doanh xăng dầu theo đúng quy định của pháp luật. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố thực hiện các giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả để khuyến khích người dân và doanh nghiệp tiết kiệm trong tiêu dùng, ưu tiên sử dụng phương tiện giao thông công cộng, xe điện, các loại nhiên liệu sinh học, góp phần chuyển đổi xanh. Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ kêu gọi các cơ quan trong hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp và các chủ thể có liên quan sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; coi đây là cơ hội để thúc đẩy chuyển đổi năng lượng theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. LUÂN DŨNG Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố thực hiện các giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả để khuyến khích người dân và doanh nghiệp tiết kiệm trong tiêu dùng, ưu tiên sử dụng phương tiện giao thông công cộng, xe điện, các loại nhiên liệu sinh học, góp phần chuyển đổi xanh. Dứt khoát không để thiếu xăng dầu Bộ Chính trị kết luận, giao Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bám sát, dự báo tình hình, diễn biến cung cầu và giá cả xăng dầu thế giới để chủ động, xây dựng kịch bản ứng phó hiệu quả; xem xét sử dụng ngay các công cụ chính sách tài khóa (các loại thuế, phí, chi, ứng chi ngân sách), tiền tệ (hỗ trợ lãi suất, vay vốn, nhu cầu ngoại tệ), chính sách quản lý giá, chính sách thương mại,... kết hợp tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra, siết chặt quản lý chống buôn lậu, quản lý chặt chẽ các đầu mối, thương nhân; xử lý nghiêm tình trạng găm hàng trục lợi, gian lận thương mại. (Kết luận số 14 của Bộ Chính trị ngày 20/3/2026 về bảo đảm nguồn cung, giá nhiên liệu ổn định trong tình hình mới) Thủ tướng nhấn mạnh 4 mục tiêu lớn: Dứt khoát không để thiếu năng lượng nói chung và xăng dầu nói riêng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng trong bất cứ tình hình nào; phải đặt trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân; phục vụ cho tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2026 và những năm tiếp theo; quản trị được các rủi ro có thể xảy ra. Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp ẢNH: VGP CHUYỆN HÔM NAY Mỗi lần giá nhiên liệu nhích lên, nền kinh tế lại rung nhẹ một nhịp, và đời sống người dân cũng chùng xuống một chút. Trong bối cảnh ấy, việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14 không chỉ là phản ứng chính sách, mà là một bước định hình lại tư duy điều hành trong một thế giới ngày càng bất định. Khi xung đột địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông, liên tục làm chao đảo thị trường năng lượng, thì khả năng “đi trước một bước” trở thành yếu tố sống còn. Điểm nổi bật của kết luận lần này là cách tiếp cận tổng thể, không tách rời từng mảnh chính sách. Tài khóa, tiền tệ, thương mại, quản lý giá – tất cả được đặt trong một chỉnh thể thống nhất. Việc yêu cầu sử dụng ngay các công cụ như thuế, phí, hỗ trợ lãi suất, ngoại tệ… cho thấy tinh thần hành động nhanh, không chờ “nước đến chân mới nhảy”. Đồng thời, việc siết chặt thanh tra, kiểm tra, xử lý găm hàng, trục lợi cũng là một lời cảnh báo rõ ràng: không để thị trường bị méo mó bởi những hành vi cơ hội. Nhưng điều đáng nói hơn nằm ở triết lý điều hành. Đó là sự kết hợp giữa kiên định và linh hoạt – một dạng “cân bằng động” trong quản trị. Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra mục tiêu dứt khoát: không để thiếu xăng dầu trong bất cứ tình huống nào. Cam kết ấy không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn là trụ cột của ổn định xã hội, bởi năng lượng chính là huyết mạch của mọi hoạt động. Ở góc nhìn quốc tế, nhiều quốc gia cũng đang loay hoay trong bài toán tương tự. Châu Âu từng trải qua cú sốc năng lượng sau xung đột Nga – Ukraine, buộc phải tái cấu trúc nguồn cung. Các nền kinh tế lớn như Mỹ hay Trung Quốc cũng liên tục điều chỉnh dự trữ chiến lược và chính sách năng lượng. Điều đó cho thấy, không một quốc gia nào đứng ngoài “cơn bão” này. Khác biệt nằm ở năng lực dự báo và độ linh hoạt trong ứng phó. Trở lại với Việt Nam, một điểm mới trong chỉ đạo lần này là đặt người dân và doanh nghiệp vào trung tâm của quá trình điều tiết. Khuyến khích tiết kiệm năng lượng, sử dụng phương tiện công cộng, xe điện, nhiên liệu sinh học… không còn là câu chuyện dài hạn, mà đã trở thành yêu cầu mang tính thời sự. Khi mỗi cá nhân thay đổi một hành vi nhỏ, tổng thể thị trường sẽ có thêm một lực đỡ đáng kể. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở các giải pháp ngắn hạn, chúng ta sẽ luôn ở thế “chống đỡ”. Kết luận số 14 vì thế đã đặt ra một yêu cầu mang tính chiến lược: xây dựng hệ thống dự trữ và cung ứng năng lượng dài hạn. Đây không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là vấn đề an ninh quốc gia trong một thế giới đầy biến động. Một nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể phụ thuộc vào những biến động khó lường của bên ngoài. Muốn đi xa, phải có nền tảng vững. Và năng lượng chính là một trong những nền tảng ấy. Giữ ổn định giá xăng dầu, suy cho cùng, không chỉ là giữ một mặt hàng. Đó là giữ nhịp sản xuất, giữ sức chịu đựng của doanh nghiệp, giữ niềm tin của thị trường và giữ sự bình yên trong từng mái nhà. Giữa những cơn sóng lớn của thời cuộc, điều quan trọng không phải là biển động hay yên, mà là con tàu có đủ bản lĩnh để đi qua hay không. Và lúc này, bài toán xăng dầu chính là thước đo rõ nhất cho bản lĩnh điều hành và sức chống chịu của nền kinh tế. N.T Ổn định năng lượng giữa sóng lớn TIẾP THEO TRANG 1

5 n Thứ Hai n Ngày 23/3/2026 THỜI SỰ GIÁ XĂNG DẦU TĂNG CAO KHÔNG CHỜ ĐẾN HẠN, DOANH NGHIỆP TĂNG TỐC Theo lộ trình, từ ngày 1/6/2026, xăng E10 sẽ được triển khai trên phạm vi toàn quốc, thay thế dần các loại xăng khoáng. Tuy nhiên, diễn biến thị trường hiện nay khiến nhiều doanh nghiệp không chờ đến mốc bắt buộc, mà chủ động đi trước một bước. Chia sẻ với PV Tiền Phong, ông Nguyễn Xuân Hùng, Phó Tổng Giám đốc Petrolimex cho biết, doanh nghiệp đã triển khai thí điểm E10 tại TP.HCM từ cuối năm 2025. “Đến thời điểm này, các phản hồi đều tích cực, chưa ghi nhận khiếu nại nào liên quan đến chất lượng hay số lượng sản phẩm. Đây là cơ sở để chúng tôi tự tin triển khai diện rộng sớm hơn kế hoạch”, ông Hùng nói. Theo ông Hùng, thị trường năng lượng thế giới đang biến động mạnh, đặc biệt là nguy cơ gián đoạn nguồn cung do xung đột tại Trung Đông. Trước tình hình này, Petrolimex xác định việc chuyển đổi sang E10 không chỉ là yêu cầu chính sách mà còn là một giải pháp quan trọng để bổ sung nguồn cung xăng dầu. Doanh nghiệp đang khẩn trương chuẩn bị các điều kiện về kỹ thuật, công nghệ, cũng như chủ động nguồn ethanol và nguồn xăng nền đạt chuẩn để phục vụ pha chế E10. Dự kiến, quá trình chuyển đổi sẽ được triển khai sớm hơn yêu cầu của Chính phủ, có thể bắt đầu từ cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5, theo lộ trình cuốn chiếu trên toàn hệ thống. “Việc đưa E10 vào sử dụng sẽ góp phần giảm áp lực nguồn cung xăng dầu trong bối cảnh hiện nay. Trong khi xăng dầu truyền thống phụ thuộc nhiều vào nguồn cung từ khu vực châu Á và chịu tác động trực tiếp từ bất ổn địa chính trị tại Trung Đông, thì ethanol, thành phần chiếm 10% trong E10 lại có nguồn cung đa dạng hơn, bao gồm sản xuất trong nước và nhập khẩu từ các thị trường như Mỹ, Brazil. Việc chủ động được nguồn ethanol giúp giảm mức độ phụ thuộc vào xăng khoáng, qua đó góp phần ổn định nguồn cung và giảm tác động từ biến động thị trường quốc tế”, ông Hùng nhấn mạnh. ĐẢM BẢO HẠ TẦNG, TRIỂN KHAI NGAY TRONG THÁNG 4 Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, điểm khác biệt cốt lõi của E10 nằm ở cấu trúc nguồn cung. Nếu xăng khoáng phụ thuộc lớn vào khu vực Trung Đông và châu Á, ethanol lại có nguồn cung đa dạng hơn. Việt Nam có thể sản xuất ethanol trong nước từ ngô, sắn, đồng thời nhập khẩu từ các thị trường như Mỹ, Brazil. Khi pha trộn 10% ethanol, nhu cầu xăng khoáng sẽ giảm tương ứng 10%. Trong điều kiện bình thường, con số này có thể chưa tạo ra khác biệt lớn. Nhưng trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu bị siết lại, điều này giúp giảm mức độ phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất. Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cho biết, tính đến thời điểm hiện tại đã có 12/26 doanh nghiệp đầu mối xăng dầu sở hữu cơ sở pha chế và phối trộn xăng sinh học. Trong số này, 3 thương nhân đã được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp phép pha chế xăng E10, trong khi 9 doanh nghiệp còn lại đang hoàn thiện thủ tục. Đây là một nền tảng quan trọng, cho thấy một nửa hệ thống đã chủ động được khâu lõi trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, con số này cũng phản ánh sự không đồng đều giữa các doanh nghiệp. Với 14 đầu mối còn lại chưa có cơ sở pha chế riêng, việc triển khai E10 sẽ phụ thuộc vào hợp tác dịch vụ với các đơn vị lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn để tránh nguy cơ gián đoạn cục bộ khi chuyển đổi đồng loạt. Về nguồn cung, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước dự kiến cuối tháng 3, Nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ tiếp nhận ethanol nhiên liệu từ Nhà máy nhiên liệu sinh học dầu khí Miền Trung để pha chế xăng E10. Nhà máy này đã hoàn thành chạy thử, sản xuất khoảng 470 m3 ethanol. Từ ngày 20/3, dự kiến vận hành ở công suất tối ưu, đạt sản lượng khoảng 60.000 tấn/năm, cung cấp trực tiếp qua hệ thống đường ống cho Dung Quất. Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam nhận định, việc triển khai rộng rãi xăng E10 có thể tạo thêm động lực tăng trưởng cho ngành xăng dầu, song đồng thời kéo theo nhu cầu lớn về ethanol. Theo ước tính, khi sử dụng phổ biến E10, Việt Nam có thể cần nhập khẩu khoảng 600.000700.000 tấn ethanol mỗi năm, chủ yếu từ Mỹ và Brazil. Theo ông Bảo, việc gia tăng nhập khẩu không chỉ làm tăng kim ngạch mà còn đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn cung ổn định trong bối cảnh chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu còn nhiều biến động. Bên cạnh đó, việc nâng tiêu chuẩn xăng dầu cũng đòi hỏi các nhà máy trong nước phải đầu tư nâng cấp công nghệ. Dự kiến đến khoảng năm 2028, sau khi hoàn tất các dự án cải tiến, năng lực sản xuất trong nước mới có thể đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn mới. DƯƠNG HƯNG TĂNG TỐC TRIỂN KHAI XĂNG E10: Giảm áp lực nguồn cung Xung đột tại Trung Đông đang khiến thị trường xăng dầu tiềm ẩn nhiều rủi ro về nguồn cung và giá cả liên tục biến động. Trong bối cảnh đó, việc đẩy nhanh triển khai xăng sinh học E10 không chỉ phục vụ mục tiêu chuyển dịch năng lượng, mà còn trực tiếp góp phần giảm áp lực nguồn cung trong ngắn hạn. Việc triển khai xăng E10 trong bối cảnh hiện nay góp phần giảm áp lực nguồn cung Nhà máy lọc dầu Dung Quốc dự kiến cuối tháng 3 sẽ tiếp nhận ethanol để pha chế xăng E10 Ông Nguyễn Xuân Hùng, Phó Tổng Giám đốc Petrolimex đang triển khai diện rộng xăng E10 sớm hơn kế hoạch ẢNH: HỒNG VĨNH Cần chính sách phát triển vùng nguyên liệu ethanol Ông Phạm Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Nhà Xanh Việt Nam cho biết doanh nghiệp hiện vận hành nhà máy tại Đồng Nai với công suất thiết kế khoảng 6.000–7.000 m3/tháng. Trong đó, khoảng 50% sản lượng đang phục vụ pha chế xăng sinh học. Theo ông Tuấn, doanh nghiệp đã chuẩn bị kế hoạch mở rộng sản xuất và đầu tư công nghệ để đáp ứng nhu cầu khi E10 vận hành ổn định. Đáng chú ý, chiến lược nguyên liệu đang được thiết kế theo hướng linh hoạt, kết hợp giữa ngô và sắn. Trong khi sắn chủ yếu thu mua trong nước, ngô được bổ sung từ cả nguồn nội địa và nhập khẩu, nhằm giảm thiểu rủi ro biến động giá. “Khi các nhà máy ethanol hoạt động ổn định, nông dân không chỉ cung cấp nguyên liệu mà trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị. Điều này sẽ tạo nền tảng cho ngành ethanol phát triển bền vững”, ông nói. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy năng lực sản xuất ethanol trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 30-40% nhu cầu. Phần còn lại vẫn phải nhập khẩu, do đó theo ông Tuấn các bộ, ngành cần phải có chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển vùng nguyên liệu. Đảm bảo giá xăng E10 hấp dẫn, cạnh tranh Chia sẻ với PV Tiền Phong, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, để E10 thực sự đi vào thị trường, điều cốt lõi nằm ở cách thiết kế chính sách, trong đó giá cả phải đóng vai trò dẫn dắt hành vi tiêu dùng. Theo ông, trong giai đoạn đầu triển khai, E10 cần duy trì mức chênh lệch đủ rõ so với xăng khoáng, khoảng 1.000-1.500 đồng/lít, để người tiêu dùng dễ dàng nhận thấy lợi ích ngay trong từng lần đổ xăng. Song song với đó, những vấn đề về chất lượng, mức tiêu hao hay ảnh hưởng đến động cơ cần được giải quyết bằng cơ chế bảo hành rõ ràng, cùng hệ thống thông tin minh bạch, nhất quán. Để thúc đẩy việc triển khai nhanh, nhận được sự ủng hộ của người dân, E10 cần được phân phối rộng khắp, hiện diện như một lựa chọn mặc định tại các cửa hàng xăng dầu, với hệ thống nhận diện thống nhất và tỷ lệ trụ bơm đủ lớn để người dân dễ dàng sử dụng, thay vì phải “tìm” như giai đoạn E5 trước đây. “Nếu hội tụ được ba yếu tố gồm giá cạnh tranh, tiêu chuẩn kỹ thuật minh bạch và hệ thống phân phối thuận tiện, E10 hoàn toàn có thể trở thành loại xăng tiêu chuẩn trên thị trường, thay vì chỉ dừng ở vai trò sản phẩm bổ sung như E5 trước đây”, ông Ngô Trí Long nhận định. PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, cần có chính sách hỗ trợ để giá xăng E10 hấp dẫn, cạnh tranh

6 n Thứ Hai n Ngày 23/3/2026 KHOA GIÁO MẤT CHUẨN Một vị bác sĩ đang làm quản lí tại một bệnh viện tư ở Hà Nội kể lại, trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng, ông từng rơi vào tình huống "dở khóc dở cười". Có ứng viên tốt nghiệp ngành y đến từ một trường ngoài công lập tại Thủ đô, khi được hỏi cẳng tay người có bao nhiêu xương đã không thể đưa ra câu trả lời chính xác. Vị này cho biết, ông không quá bất ngờ. Những dấu hiệu về sự suy giảm chất lượng đào tạo y khoa đã được giới chuyên môn cảnh báo từ khoảng năm 20152016, khi trường ĐH ngoài công lập tham gia đào tạo lĩnh vực đặc thù này. Gần đây, một bệnh viện chuyên khoa lớn tại TPHCM tuyển dụng bác sĩ, nhưng không có ứng viên nào đáp ứng yêu cầu càng khiến những lo ngại trở nên rõ ràng hơn. Khác với nhiều lĩnh vực, đào tạo nhóm ngành sức khỏe đòi hỏi hai trụ cột bắt buộc là lí thuyết và thực hành lâm sàng. Đây là những điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng đầu ra. Tuy nhiên, việc các cơ sở đào tạo có thực sự đáp ứng được hai tiêu chí này hay không vẫn là câu hỏi lớn. Ngay cả cơ quan quản lí là Bộ GD&ĐT và Bộ Y tế cũng chưa có công cụ kiểm soát hiệu quả để đưa ra câu trả lời đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, chỉ khi có thanh tra, kiểm tra trực tiếp, những bất cập mới dần lộ diện. Một ví dụ điển hình là năm 2025, Trường ĐH Kinh Bắc bị Bộ GD&ĐT ban hành tới 6 quyết định xử phạt hành chính với tổng số tiền 470 triệu đồng. Trong đó, lỗi nghiêm trọng nhất là không bảo đảm đủ giảng viên cơ hữu để tổ chức và duy trì chương trình đào tạo ở nhiều ngành, bao gồm cả lĩnh vực khoa học sức khỏe. Có tới 10 ngành trình độ ĐH và 2 ngành trình độ thạc sĩ vi phạm quy định này. Trong bối cảnh nhiều ngành học khác gặp khó khăn về tuyển sinh, nhóm ngành y dược tại cơ sở này không chỉ thiếu giảng viên mà còn tuyển vượt chỉ tiêu. Theo kết luận của đoàn kiểm tra, năm 2024, tổng chỉ tiêu ba ngành y khoa, y học cổ truyền và dược học là 300 nhưng thực tế tuyển 328, vượt 10,9%. Thậm chí, trong đề án tuyển sinh năm 2025 (trước thời điểm bị xử phạt), nhà trường còn dự kiến tăng mạnh chỉ tiêu, riêng ngành y khoa lên tới 300 chỉ tiêu, tăng 300%. Tuy nhiên, sau đó, cơ sở này bị buộc dừng hoạt động giáo dục, bao gồm tuyển sinh và đào tạo, trong thời hạn 9 tháng. Những con số trên phản ánh một thực tế tuyển sinh nhóm ngành y dược trong những năm gần đây diễn ra thuận lợi, nhu cầu học của thí sinh cao, tạo điều kiện để quy mô đào tạo mở rộng nhanh chóng. Tuy nhiên, sự tăng trưởng “nóng” này cũng kéo theo nhiều hệ lụy về chất lượng. Tại nhiều diễn đàn chuyên môn, các chuyên gia cảnh báo sự chênh lệch không chỉ nằm ở quy mô mà còn thể hiện rõ ở chất lượng đầu vào. Trong khi các trường y dược tốp đầu luôn có điểm chuẩn cao, nhiều cơ sở mới chỉ lấy ở mức sàn do Bộ GD&ĐT quy định. Thậm chí, có trường tỉ lệ thí sinh trúng tuyển bằng phương thức xét học bạ chiếm phần lớn. Một giảng viên Trường ĐH Y Hà Nội cho biết, sự khác biệt về điểm chuẩn đầu vào phản ánh trực tiếp năng lực học tập của sinh viên. Khó có thể đặt kì vọng tương đương giữa nhóm sinh viên trúng tuyển với mức điểm 20/30 và nhóm đạt 28/30. Sự chênh lệch này sẽ bộc lộ rõ trong quá trình học tập, đặc biệt là khi bước vào giai đoạn thực hành lâm sàng. NGUY CƠ BÁC SĨ TRÊN “GIẤY” Nếu như trước đây, đào tạo y khoa chỉ giới hạn ở một số ít cơ sở với yêu cầu đầu vào khắt khe, thì hiện nay đã trở nên phổ biến hơn, với nhiều trường tham gia và mức tuyển sinh dễ tiếp cận hơn. Số lượng trường ngoài công lập mở ngành sức khỏe tăng nhanh kéo theo số lượng sinh viên ngành y tăng theo tỉ lệ thuận. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là nhiều cơ sở chưa bảo đảm đủ đội ngũ giảng viên và hệ thống bệnh viện thực hành. Đây là yếu tố cốt lõi của đào tạo y khoa. Việc thiếu hụt môi trường thực hành không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà còn khiến sinh viên thiếu tự tin, thậm chí nản lòng với nghề. Số liệu từ Bộ Y tế cho thấy, bức tranh phát triển quy mô đào tạo nhân lực y tế trong gần hai thập kỉ qua có sự thay đổi mạnh mẽ. Nếu như hơn 18 năm trước, cả nước chỉ có 8 trường y với khoảng hơn 3.000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, thì hiện nay đã có 214 cơ sở đào tạo nhân lực y tế. Trong đó, 66 cơ sở giáo dục ĐH, 139 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 9 viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ. Riêng năm 2023, cả nước có hơn 11.000 bác sĩ, gần 8.500 dược sĩ và trên 18.000 điều dưỡng tốt nghiệp. Quy mô tuyển sinh năm 2024 cũng ở mức cao với 16.500 chỉ tiêu bác sĩ, 13.350 chỉ tiêu dược sĩ và 10.300 chỉ tiêu điều dưỡng trình độ ĐH. Số lượng bác sĩ tăng gấp hơn 4 lần so với trước đây, nhưng câu hỏi đặt ra là hệ thống bệnh viện thực hành có tăng tương ứng hay không. Đây từng là băn khoăn của GS.TS Trần Diệp Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Trường ĐH Y dược TPHCM. Ông chứng kiến có thời điểm 1 phòng bệnh của bệnh viện lớn tại TPHCM có 18 bệnh nhân nhưng có tới 82 sinh viên thực tập. Nếu chiếu theo quy định, cùng một thời điểm mỗi phòng không quá 3 sinh viên thực hành/giường bệnh thì thực tế đã vượt xa. Không chỉ quá tải về số lượng, chất lượng hướng dẫn thực hành cũng là vấn đề đáng lo ngại. Nhiều giảng viên phản ánh, một số trường “thả nổi” sinh viên tại bệnh viện. Trong khi đó, các bác sĩ lâm sàng thường bận rộn, không có nghĩa vụ pháp lí rõ ràng trong việc giảng dạy, nên không mặn mà với việc hướng dẫn. Hệ quả là xuất hiện tình trạng sinh viên của nhiều trường cùng “học ké” trong một buổi thực hành. Việc thiếu sự kèm cặp sát sao khiến kĩ năng lâm sàng của sinh viên không được rèn luyện đầy đủ. Theo phản ánh từ giảng viên, không hiếm trường hợp sinh viên sau 6 năm đào tạo vẫn lúng túng với những kĩ năng cơ bản như tiêm, truyền. Trong bối cảnh nhiều trường chưa có bệnh viện thực hành riêng, việc phụ thuộc vào hệ thống bệnh viện bên ngoài khiến áp lực dồn lên một số cơ sở y tế lớn. Điều này dẫn đến tình trạng gia tăng quá tải, do một bệnh viện phải tiếp nhận sinh viên từ nhiều trường khác nhau, ở nhiều trình độ. Theo thống kê, tại Hà Nội hiện chỉ có 2/5 trường ĐH đào tạo y khoa sở hữu bệnh viện thực hành. Các trường còn lại đều phải kí kết hợp tác với bệnh viện bên ngoài, đồng thời xây dựng đề án riêng để phát triển cơ sở thực hành trong tương lai. Thảo luận tại Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội (tháng 10/2025), đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung, Hiệu trưởng Cao đẳng Y tế Thái Bình (đoàn Hưng Yên) cho rằng, số lượng cơ sở đào tạo nhân lực y tế tăng nhanh, đặc biệt ở khối ngoài công lập. Đáng chú ý, số cơ sở có bệnh viện thực hành trực thuộc còn ít, khiến việc tổ chức thực tập cho sinh viên gặp nhiều khó khăn. Thực trạng này cho thấy một nghịch lí: quy mô đào tạo tăng nhanh nhưng điều kiện bảo đảm chất lượng chưa theo kịp. Nếu không có giải pháp kiểm soát hiệu quả, nguy cơ suy giảm chất lượng nguồn nhân lực y tế là điều có thể nhìn thấy trước. NGHIÊM HUÊ Chất lượng đào tạo y khoa tại Việt Nam đang gióng lên hồi chuông cảnh báo khi nhiều trường mở ngành, nhưng điều kiện thực hành còn hạn chế, chất lượng đội ngũ không đồng đều, nhiều trường còn tình trạng “đánh trống ghi tên” giảng viên. Báo động chất lượng đào tạo y khoa Bộ Y tế khẳng định, chất lượng đào tạo nhân lực ngành y tăng chưa tương ứng với sự phát triển mạnh mẽ của trình độ khoa học và công nghệ, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Điều kiện thực hành tại bệnh viện, phòng thí nghiệm, doanh nghiệp còn hạn chế ảnh hưởng tới năng lực làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp; chất lượng đào tạo (đầu ra) không đồng đều giữa các cơ sở đào tạo do chênh lệch về đầu tư cơ sở vật chất và trình độ giảng viên. Thí sinh tìm hiểu thông tin tuyển sinh đại học năm 2026 ẢNH: DUY PHẠM LTS: Trước những tranh luận ngày càng gay gắt về chất lượng đào tạo nhân lực y tế, đặc biệt là bác sĩ, vấn đề siết lại điều kiện mở ngành, tuyển sinh và tổ chức đào tạo y khoa đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Loạt bài “Báo động chất lượng đào tạo y khoa” sẽ đi sâu phân tích thực trạng, chỉ ra những điểm nghẽn trong cơ chế quản lí, đồng thời ghi nhận ý kiến từ các chuyên gia, cơ sở đào tạo và bệnh viện nhằm góp phần thúc đẩy những điều chỉnh cần thiết, hướng tới xây dựng một hệ thống đào tạo y khoa chuẩn mực. Bài 1: Thiếu chuẩn đo chất lượng Thực hành tại trường y dược

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==